Thư trả lời cư sĩ Từ Bình Hiên
Ba ngày sau sẽ “cử ai”
Nhận được thư, biết đích xác chuyện lệnh từ nắm chặt xâu chuỗi [sau khi đã mất], quả thật là chẳng thể nghĩ bàn. Sở dĩ tôi phải hỏi cặn kẽ chuyện ấy là do người đời nay hay giả dối, toàn là bỗng dưng bịa chuyện. Quang chỉ muốn truyền thuật sự thực, chẳng muốn nói cho dễ nghe đến nỗi đem phàm lạm thánh! [Để yên thi thể cụ] ba ngày [rồi mới chuẩn bị] nhập liệm, rồi mới tắm rửa, thay quần áo [cho cụ], hết sức đúng! Bởi lẽ, tôi một mực nói [đừng động đến thân thể người đã khuất] trong hai ba tiếng đồng hồ là vì kẻ chẳng hiểu chuyện sẽ chẳng chịu chờ đợi lâu đến như thế! Nếu đúng ra, theo đúng lý, nên đổi thành ba ngày, rồi mới “cử ai” (cất tiếng khóc), tắm rửa, thay áo. Đến bốn mươi chín ngày mới “cử ai” thì về Lý không bị trở ngại gì, nhưng xét về mặt Sự thì dường như quá sức lợt lạt, chẳng đáng để noi theo. Ba ngày sau sẽ “cử ai” quả thật là thích đáng đến cùng cực.
Vùng Giang - Chiết đại chiến bốn mươi mấy ngày, trăm họ trôi giạt khắp các nẻo đường, thảm chẳng nỡ nghe! Nhà cửa dân chúng nếu nằm trong vùng giao tranh thì những vật dụng để sanh sống chẳng còn một thứ gì. Ngay như những kẻ lánh được ra ngoài dẫu không bị chết thì cũng chẳng thể nào ổn định cuộc sống được. Mỗi phen nghĩ đến thật đau lòng. Thượng Hải vừa mới đề xướng xong công cuộc từ thiện nên không có cách nào nhắc đến chuyện cứu trợ nơi khác được đâu!
Trước kia, ông Nữu Nguyên Bá cho biết tại Giang Tây nước ngập ba mươi mấy huyện, đem sổ vàng cứu trợ gởi cho Quang, mong Quang khuyên người khác quyên mộ. Quang chỉ đành tự quyên tặng khoản tiền một trăm đồng cho trọn hết lòng tôi, quý hội cũng giúp đỡ một trăm đồng. Do Quang vốn chẳng có tiền của tích cóp, đấy vẫn là khoản tiền tính dùng để góp phần in Đại Sĩ Tụng nhằm mong sao các trưởng quan thống lãnh binh lính biết “người cùng nhà đánh nhau sẽ là tự chặt tay chân và giết hại thân mạng của chính mình”, từ đấy buông xuống cái tâm tàn độc tranh giành, kèn cựa, phát khởi ý niệm nhân từ “chung sống hòa bình” thì nước nhà may mắn lắm thay, nhân dân may mắn lắm thay! Nếu không, “ngao - cò tranh nhau, ngư ông hưởng lợi!” Muốn chẳng cùng lọt vào bụng kẻ khác, há có được chăng? Buồn thay! Ngoài thời khóa chánh thức ra, xin hãy niệm thêm Quán Thế Âm để chuẩn bị dự phòng!
Thư trả lời cư sĩ Đường Đại Viên
Nhận được thư, biết ông đại nguyện vô lượng, lại còn có thể tùy duyên, rất hợp thời, hợp thế. Muốn kiến lập pháp hóa trong lúc đất nước khốn đốn, nhân dân nghèo cùng mà trước hết bèn xây dựng phô trương thì sẽ tốn sức chẳng ít, sẽ khiến cho bọn tiểu nhân bắt chước thủ lợi, kẻ giàu có kiềng mặt tránh xa.
Nếu gặp hết thảy mọi người, chỉ nên dạy họ ai nấy trọn hết luân thường, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, phóng sanh, ăn chay, niệm Phật thì [các tai nạn] sẽ biến mất không còn dấu vết. Do đôi bên chẳng bị trở ngại chức trách, công việc, chẳng hao tốn tiền tài, có lẽ người ta sẽ dễ tiếp nhận sự giáo hóa mà mình cũng nhẹ phần gánh vác, Phật pháp càng dễ lưu hành phổ biến hơn!
“Từ một người cho đến vô lượng người đều nên làm cho họ vãng sanh Tây Phương trong đời này"
Ông phát nguyện lập trường học nơi đất trống, lập liên xã nơi đất trống, cố nhiên là đỡ tốn công, nhưng vẫn là chẳng biết tùy địa phương, tùy duyên để tạo phương tiện cho dễ thực hiện. Trên là nơi thanh miếu, minh đường, dưới là bến nước, bên cội cây, hễ gặp được ai có thể trò chuyện liền dùng những chuyện này để khuyên nhủ. Văn Lộ Công phát nguyện “sẽ khiến cho mười vạn người niệm Phật cầu sanh Tây Phương” bèn kết Liên Xã. Tôi cho rằng: “Từ một người cho đến vô lượng người đều nên làm cho họ vãng sanh Tây Phương trong đời này, há nên lấy mười vạn người làm hạn định?”.

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà cao 48m, dát 48 kg vàng, tại chùa Đông Lâm, Trung Quốc.
Đoạn đầu: Nhận được thư, biết đích xác chuyện lệnh từ nắm chặt xâu chuỗi [sau khi đã mất], quả thật là chẳng thể nghĩ bàn.
Như vậy là cụ có được vãng sanh hay không? Các Ngài nói là "chẳng thể nghĩ bàn" như thế thì 'rất có thể' là đã thành tựu vãng sanh. Dĩ nhiên dựa vào hình tướng để lại như thế, nếu kèm thêm một số điềm lành khác như: Lúc cuối an lành tự tại mà ra đi, niệm đến khi dứt hơi, hay thù thắng hơn là cười nói, nói lời cáo biệt hay một lời khuyến tu sách tấn những người ở lại, rồi để lại thoại tướng tốt đẹp... như thế thì có thể chắn chắn hơn cho việc khẳng định sự thành tựu. Chứ việc chỉ biết có ấn chứng lúc ra đi tay nắm chặt xâu chuỗi thì chưa dám khẳng định 100%, mà rõ ràng các Ngài cũng không có khẳng định ở đây. Nhưng hành động "nắm chặt" [xâu chuỗi] thì chứng tỏ là đã niệm Phật đến lúc ra đi luôn, chứ chẳng phải 'nắm chơi', bởi nếu chỉ nắm chơi thì lúc tắt hơi thường sẽ bị rơi xâu chuỗi xuống. Cho nên có thể khẳng định rằng ở trường hợp này khả năng cao là cụ đã được Phật tiếp dẫn vãng sanh rồi. Tuy nhiên tất cả những cái này đều là ấn tích, điềm lành để lại [sau khi được vãng sanh] thôi nhé, chứ đó chẳng phải là điều kiện để được vãng sanh [như đa phần nghĩ vậy], tức là cả một đời [hay cả quá trình] tu hành như thế nào đó, thì đến lúc cuối mới được thành tựu vãng sanh [và để lại những dấu ấn, điểm tích thù thắng như vậy], chứ không phải nói rằng phải có những điều như vậy thì mới được vãng sanh, hoàn toàn không phải vậy [trừ Pháp Biên Địa là lúc cuối bắt buộc phải như vậy, kèm tâm chí thành nữa].
Tiếp theo: [Để yên thi thể cụ] ba ngày [rồi mới chuẩn bị] nhập liệm, rồi mới tắm rửa, thay quần áo [cho cụ], hết sức đúng! Bởi lẽ, tôi một mực nói [đừng động đến thân thể người đã khuất] trong hai ba tiếng đồng hồ là vì kẻ chẳng hiểu chuyện sẽ chẳng chịu chờ đợi lâu đến như thế!
Con người càng về giai đoạn sau này nghiệp thức càng nặng, cho nên càng phải 'để lâu' như vậy, bởi một khi nếu thần thức còn trong đó mà vội dời động, tắm rửa, thay đồ, lo hậu sự thì sẽ khiến thần thức người mất như bị tra tấn, rồi sanh sân hận, mà bị đọa lạc hoặc trở nên khó siêu thoát, cho nên thà có thể nhìn hơn khó coi chút [hình dạng lúc ra đi] còn hơn là vô tình báo hại người thân của mình. Chuyện này ở thế gian thì nhiều vô số kể, nếu không muốn nói là đa số là làm vậy, nếu gia đình người thân chẳng hiểu rõ đạo và không tỉnh táo kiên quyết lúc bối rối đó. Ngay cả các ca đã được vãng sanh cũng phải tuân thủ như vậy, cứ để đó niệm Phật hộ niệm thêm 24 tiếng rồi mới bắt đầu lo hậu sự cũng chẳng muộn, mặc người thế gian lúc đó muốn nói gì nói. Thật sự rằng một người bình thường [nếu không được vãng sanh] thì phải cần khoảng thời gian như vậy mới có thể chắc chắn thần thức đã ra khỏi, thậm chí nhiều khi còn lâu hơn, nên nếu muốn chắc ăn hơn thì như các Ngài nói phải đợi sau 3 ngày hãy tiến hành lo các hậu sự này kia, tránh dời động, hay động chạm đến thân thể người mất.
Trong thư thứ hai: Nếu gặp hết thảy mọi người, chỉ nên dạy họ ai nấy trọn hết luân thường, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, phóng sanh, ăn chay, niệm Phật thì [các tai nạn] sẽ biến mất không còn dấu vết.
Đây là những điều chúng ta đã được học tập nhiều lần lắm rồi, nên cũng không cần nói gì nhiều thêm. Sở dĩ các Ngài thường khuyên tu trì cần phải Chánh trợ song tu như vậy, đó là vì việc tu trì là việc cả đời, có khi kéo dài hàng mấy mươi năm, chứ chẳng phải ngày một ngày hai năm một năm hai, nên cần phải như thế, nhất là giai đoạn về sau như này, thời thế tạp loạn, thiên tai nhân họa liên miên, tai họa rập rình, nếu không khéo tu trì thì thật khó giữ được sự ổn định, bền vững, tránh đi những xáo trộn, đứt quãng trong tu tập. Nói chung dù có phát tâm hay chẳng phát tâm [tu cầu giải thoát] gì đi nữa thì con người ta luôn muốn cuộc sống này được ổn định, an vui, nhân dân an lạc, thiên hạ thái bình, gia đình ấm no, hạnh phúc. Bởi vậy cho nên cần phải "đoạn ác, tu thiện", "đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành", đây là nói chung cho tất cả [để mong có cái quả được an lành, hạnh phúc], còn với hành giả Tịnh Độ thì đương nhiên phải có cái Chánh hạnh là sanh tín, phát nguyện, niệm Phật cầu sanh [đây mới là Chánh hạnh chân thật, đầy đủ, chứ không phải chỉ nói niệm Phật không]. Nói chung là một khi 'chiến đấu đường trường' là phải như các Ngài nói, chánh trợ song tu, nói chung là như vậy. Còn dạng tu 'quãng ngắn' thì có thể không cần, cứ Tín Nguyện, Niệm Phật mà hành trì, đợi ngày Phật đến rước, quan trọng là đừng nghi ngờ điều này [được Phật rước], hay đừng có vướng vào những kiến giải này kia lúc cuối [như phải thế này phải thế nọ, thì Phật mới đến rước], dạ ngàn vạn phần đừng nên. Bởi vì sao? Bởi như thế sẽ đánh mất Tín tâm chân thật chẳng nghi [tức "chí tâm tin ưa"], đây là điều cốt lõi phải có nếu muốn lúc cuối được nương vào Tha Lực Phật để tự tại được sanh về. Cho nên các việc như viết di chúc, lo sắp xếp sẳn ban hộ niệm, hay dặn dò con cháu người thân [lúc cuối phải thế này thế nọ] v.v... dạ tất cả đó không cần, hoàn toàn không. Chỉ cần một Tín tâm cho chắc cho vững, kiên định, không dao động [trước bất kỳ hoàn cảnh, nhân duyên nào], rồi siêng năng, chân thật hành trì, giữ gìn đều đặn như vậy. Mà để giữ vững được việc "thọ trì" như thế thì có cách đơn giản là cứ lấy Kinh giáo Phật thuyết ra làm chứng cứ thôi [tức Bổn Nguyện, chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác"], rằng Phật đã nói như thế thì cứ như thế mà tin mà hành thôi [niệm Phật], chẳng cần [tin] ở đâu khác cả, rồi cứ như vậy mà duy trì, tu tập, tụ lợi lợi tha, tự hành khuyên người [cũng như vậy] để sau mình cùng người [thân, hữu, gần xa] cho đến tất cả chúng sanh đều được thành tựu vãng sanh giải thoát hết cả.
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Đại Sư Ấn Quang
Như Hòa chuyển ngữ
