Chén Bát Chưa Nung, Vừa Gặp Trận Mưa Sanh Tử Liền Rã Thành Bùn Đất

 

 

NPSTD7

Chén Bát Chưa Nung, Vừa Gặp Trận Mưa Sanh Tử Liền Rã Thành Bùn Đất

Nếu chẳng nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì...

Nhận được thư đầy đủ. Quang là một ông Tăng vô tri vô thức chỉ biết cơm cháo, chỉ yên phận ngu hèn, chỉ biết tu trì Tịnh nghiệp để mong cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Nếu hai vị chẳng muốn làm đại thông gia thì sẽ chẳng đến nỗi vì Quang tầm thường, kém cỏi khiến cho những điều quý vị mong mỏi bị lỡ làng. Nếu muốn làm đại thông gia thì đã hoàn toàn trông cậy không đúng người rồi! Tuy nhiên, làm bậc đại thông gia há phải là chuyện dễ nói hay sao? Dẫu có đạt được mà chẳng nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì thật sợ sẽ từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo! Ấy là vì cậy vào tự lực để liễu sanh tử đem so với cậy vào Phật lực để liễu sanh tử thì sẽ giống như sự khác biệt giữa ngày và kiếp vậy!

 

Chén bát chưa nung, vừa gặp trận mưa sanh tử liền rã thành bùn đất
Kẻ biết tốt - xấu chớ nên phỏng theo chí nguyện của bậc hành Bồ Tát đạo đã liễu sanh tử, mà cần phải chắc chắn được vãng sanh Tây Phương ngay trong đời này! Đã vãng sanh Tây Phương rồi mới học theo [chí nguyện những bậc hành Bồ Tát đạo đã liễu sanh tử] thì sẽ hữu ích. Nếu chưa vãng sanh mà đã bắt chước ngay thì sẽ giống như chén bát chưa nung, vừa gặp trận mưa sanh tử liền rã thành bùn đất! Trong cõi đời thường có những kẻ thích ăn to nói lớn, tự coi mình có thân phận giống như Phật, Bồ Tát, chỉ trở thành hạng tự lầm, lầm người mà thôi! Xin hai vị hãy suy nghĩ sâu xa!

 

Tuy là những lời lẽ tầm thường, nhưng hễ phân tích rõ ràng thì cố nhiên đã bao quát sạch hết

Người học Phật ắt phải ai nấy giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận. Nói đến “bổn phận”, chính là cha hiếu, con từ, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành v.v… Nếu ai nấy đều trọn hết phận mình thì thiên hạ sẽ tự thái bình, nhưng trong ấy chỉ có chức phận cha mẹ là có quan hệ trọng yếu nhất. Nếu những kẻ làm cha mẹ trong cõi đời ai nấy đều khéo dạy dỗ con cái thì những kẻ quấy rối mù quáng và những kẻ ương bướng kém hèn, chẳng tuân theo pháp tắc sẽ đều trở thành hiền nhân, thiện nhân, đâu đến nỗi có chuyện xâm lăng, cướp đoạt, tàn sát lẫn nhau? [Câu nói] “thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm” chính là nói về sự giáo dục trong gia đình sao cho con cái đều thành lương thiện. Những điều vừa nói trên đây tuy là những lời lẽ tầm thường, nhưng hễ phân tích rõ ràng thì cố nhiên đã bao quát sạch hết không còn.

 

Hãy nên đối đãi bằng lòng chân thành, ra rả răn nhắc
Hai vị đang là sĩ quan, càng phải nên giữ nghiêm kỷ luật, nêu gương tốt đẹp cho quân lính. Ấy chính là như thường nói: “Dùng lời nói để dạy sẽ bị tranh cãi, dùng thân để dạy người ta sẽ thuận theo”. Không một chuyện nào trong thế gian chẳng lấy thân làm gốc. Đối với binh sĩ, hãy nên đối đãi bằng lòng chân thành, ra rả răn nhắc, khiến cho bọn họ ai nấy đều giữ chí “trừ bạo, an lương, bảo vệ trăm họ”, coi người khác như chính mình, coi mình giống như người khác, đừng khinh lấn, xâm đoạt lẫn nhau, coi phụ nữ của người khác như chị em gái của chính mình, chẳng dám khởi vọng niệm trái phận! Ắt mong sao chẳng cô phụ chức phận “bảo vệ đất nước, dân chúng” thì đội quân ấy chẳng đáng gọi “đạo đức quân, nhân nghĩa quân” ư? Dùng quân đạo đức nhân nghĩa để chế ngự địch quân thì không ai đối địch được, ắt sẽ luôn đắc thắng. Vì thế Khổng Tử nói: “Ngã chiến tắc khắc” (Ta cầm quân chắc chắn thắng trận), chính là nhằm diễn tả ý này. Trong cõi đời gần đây, năm nào cũng có chiến sự, đa phần những ai hơi mang lòng nhân từ trung tín và niệm kinh, niệm Phật thì tuy ở trong rừng súng mưa đạn vẫn trọn chẳng bị thương vong. Đấy chính là hiệu quả vậy.

 

Tông Huệ, Tông Nhất
Hai vị đã muốn quy y thì nay tôi sẽ thuận theo ý muốn mà đặt pháp danh. Nếu sau này biết tôi vô tri vô thức, chẳng đáng làm thầy, lại bái bậc cao nhân khác thì quả thật tôi cũng rất vui lòng. Tiết Anh Huệ pháp danh là Tông Huệ. Tông là chủ; nghĩa là nhất cử, nhất động đều lấy trí huệ làm chủ thì không gì chẳng tốt lành, không gì chẳng khế hợp với tâm tích của thánh nhân thế gian và Phật, Bồ Tát xuất thế gian. Lưu Nhất Hạc pháp danh là Tông Nhất. Nhất là thuần nhất, không vọng. Trong tâm thường thuần đạo đức nhân nghĩa, không có vọng niệm nào khác trái nghịch với đạo đức nhân nghĩa thì sẽ đáng gọi là đệ tử thật sự của Nho, của Phật. Dùng những điều ấy để dắt dìu người khác, cố nhiên sẽ chẳng khó gì khiến cho đây - kia đều có cùng một đức vậy.

 

Ngõ hầu chẳng phí cuộc đời này và chẳng uổng dịp gặp gỡ này

Hiện nay, thiên tai nhân họa thường liên tiếp xảy ra, ắt phải thường lấy tín nguyện niệm Phật và niệm Quán Âm để tự hành, dạy người, để mong khi sống sẽ tiêu trừ nghiệp chướng, cao dự vào bậc thánh hiền, khi mất sẽ cậy vào Phật từ lực lên thẳng cõi Cực Lạc, ngõ hầu chẳng phí cuộc đời này và chẳng uổng dịp gặp gỡ này! Những điều khác đã nói tường tận trong các sách như Văn Sao v.v… ở đây không viết cặn kẽ. Nếu muốn xem các sách thì có thể thỉnh từ chỗ ông Điền Thân Phủ ở số tám mươi sáu phường Thái An, thành phố Hán Khẩu.


Ba phương thuốc cai nghiện á phiện, trị bệnh sốt rét, [chó dại cắn] v.v… đã in trong tháng Chạp năm ngoái rất linh nghiệm, mà bệnh sốt rét là bệnh thường phát ra nhiều nhất trong khoảng Hạ - Thu. Toa thuốc này chẳng tốn một đồng mà chẳng ai không được trị lành. Do vậy, đính kèm hai trương để bảo rộng rãi với mọi người, đấy cũng là một cách làm lợi cho người khác. Quang đã bảy mươi hai tuổi rồi, sáng chẳng đảm bảo được tối. Hơn nữa, vẻ suy tàn đã hiện, tinh thần chẳng đủ, chỉ mong hai ông dựa theo Văn Sao để tu trì, đừng gởi thư tới nữa do sức khó thể thù tiếp được, chứ không phải là chẳng muốn nói với người khác. Dẫu có nói tường tận thì làm sao đầy đủ bằng một bộ sách cho được? (Mồng Năm tháng Tư)

TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ VN4R455

Nam Mô A Di Đà Phật

Đoạn đầu: ...Tuy nhiên, làm bậc đại thông gia há phải là chuyện dễ nói hay sao? Dẫu có đạt được mà chẳng nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì thật sợ sẽ từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo! Ấy là vì cậy vào tự lực để liễu sanh tử đem so với cậy vào Phật lực để liễu sanh tử thì sẽ giống như sự khác biệt giữa ngày và kiếp vậy!

Thế nào gọi là bậc đại thông gia? Tức là dạng cái gì cũng biết, cái gì cũng tỏ hết, nhưng đây chưa phải là bậc Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh đâu. Chỉ là do nghe nhiều, đọc nhiều nên thành ra biết nhiều, kiến thức nhiều, còn cái nào chưa đọc chưa nghe thì chưa biết [hoặc giả là biết không đúng], thế thôi. Còn bậc Đại triệt đại ngộ minh tâm kiến tánh thì [đôi khi] không cần học nhiều nhưng vẫn sáng tỏ, thấy được bản chất của vấn đế. Nói chung một dạng chỉ dựa vào học tập, kiến thức thu nhặt được [là chủ yếu], nên còn hạn hẹp, phiến diện, còn một dạng thì nhờ công phu tu tập [là chính] nên sự hiểu biết rất rộng rãi, không ngằn mé, nói chung là ở một trình độ khác hẳn, không thể so được. Tuy nhiên, nói đến dạng là bậc đại thông gia, không có nghĩa là không tốt hết đâu, hay dạng không đáng để nhắc tới, mà là do dạng này thường đi kèm với tánh 'kiêu mạn', nên khó khế nhập với tâm tu đạo, chỉ vậy thôi. Lý do là vì họ học rộng, biết nhiều, nên nhiều khi cứ nhầm tưởng rằng mình ngon, mình giỏi [hơn người khác], nên khó chịu 'hạ mình' để học hỏi, vâng theo lời dạy của các bậc hiền nhân, cổ đức đi trước, hay thậm chí cả lời Chư Phật, Chư Tổ Sư, từ đó thành ra không chịu thực chất thực hành, áp dụng, hành trì trong tu tập hay trong đời sống thường ngày, riết rồi kiến thức vẫn chỉ hoài kiến thức, lý thuyết vẫn chỉ là lý thuyết, thậm chí càng học tập, nghiên cứu thì càng trở nên sáo rỗng, xa rời thực tiễn, không có lợi ích thiết thực [cho đạo và đời]. Chứ còn nếu học tập, nghiên cứu giáo lý Kinh điển, trước tác của Phật, Bồ Tát, của Cổ đức, Thánh hiền, kèm theo chân thật hành trì, áp dụng vào tu tập, đời sống, rằng Sự Lý viên dung, thì sẽ rất tốt, thăng tiến nhanh. Tuy nhiên làm gì làm cũng phải tùy phận tùy lực, tùy căn cơ của mình, tránh bắt chước học theo kẻ khác, bởi mỗi người sẽ có một căn cơ, hoàn cảnh, nhân duyên, hay ưu nhược điểm khác nhau, chẳng ai giống nhau hết cả, cho nên phải biết lượng sức mình mà tu học sao cho thuận tiện nhất, tốt đẹp nhất là được, chứ chẳng phải cứ 'giống người ta' hay 'được như người ta' mới là tốt, trong tu đạo không phải như vậy.

Chỗ "chẳng nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì thật sợ sẽ từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo", thế nào là "nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương"? Đó chính là nương Phật từ lực vãng sanh Tây Phương vậy, tức là nhờ có Tín Nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương nên chúng ta được nương Phật từ lực tiếp dẫn vãng sanh lúc cuối. Chữ "nương" ở đây là "nương" hoàn toàn một trăm phần trăm [vào Phật từ lực], chứ chẳng phải nói năm mươi năm mươi hay nói dạng như Pháp nhị lực [tha lực cộng tự lực] gì đó đâu nhé. Một khi đã chấp nhận "nương" là phải "nương" hoàn toàn, một trăm phần trăm, tức tin tưởng hoàn toàn vào Phật lực cứu độ [để vãng sanh, giải thoát], đó cũng tức là tin tưởng, chẳng chút hoài nghi vào Bổn Nguyện của Phật vậy [Phật tuyên rằng "nếu không vãng sanh Phật chẳng thủ ngôi Chánh Giác"]. Còn việc hành trì, tu tập, thực hành thì đương nhiên với cái tâm lực đó chắc chắn phải chân thật, chuyên cần hành trì, thực hành tu tập rồi, chứ chẳng thể lười biếng, sao nhãn, hay dạng qua loa chiếu lệ cho được, nói chung là hành trì, tu tập bằng thực chất, chân thật, chứ chẳng phải dạng phù phiếm, hư giả được, tất cả đều vì mục tiêu tối thượng là được vãng sanh, liễu thoát sanh tử, còn tất cả khác chẳng qua chỉ là để làm phương tiện thiện xảo, tự lợi lợi tha, từ bi yêu thương thôi, phàm phu chúng ta là vậy, phải có [lợi lạc] cả 'mình' và 'người' trong đó, như vậy mới chân thực, bền vững.

Cho nên chúng ta thấy, với Pháp môn này, đã trót mang tiếng rằng "nương" vào Tha lực cứu độ [để vãng sanh] thì thôi "nương" hẳn luôn đi, như thế chắc chắn Phật sẽ cứu độ, không sót lọt đâu được, chứ còn như dạng 'nửa nạc nửa mỡ' [như Pháp Biên Địa, hay Hộ Niệm], rằng lâm chung phải đầu óc tỉnh táo, chánh niệm niệm Phật một niệm mười niệm gì đó..., còn yếu tố gọi là Tha lực chắc chỉ là việc Phật đến rước về thôi, chắc chỉ hiểu đơn giản là vậy, còn lại là phải tự lực tất tần tật hết. Thật sự nếu hiểu như vậy thì đã đánh mất đi chắc cở hơn chín mươi phần trăm cái năng lực cùng sự thù thắng của yếu tố Tha lực [và cả Pháp môn] này rồi, thật sự vậy. Mà muốn cho được 'phát huy' hoàn toàn yếu tố Tha lực này, tức để được hoàn toàn nương vào Tha lực này, thì chẳng có gì phức tạp hay khó khăn gì cả, cứ tin tưởng hoàn toàn, đừng hoài nghi gì cả [vào Bổn Nguyện, lời Phật tuyên thệ] là được, tất cả đều được giải quyết xong. Mà để tin chắc chẳng nghi cái Bổn Nguyện này thì chỉ cần dựa vào cái Lý trong Kinh Phật đã thuyết, rằng Phật đã thành Phật [được mười kiếp], nên Bổn Nguyện đã thành tựu, không thể hư dối [tức không thể hoài nghi được], cái này chúng ta đã 'nhai đi nhai lại', ra rả suốt ngày rồi đấy thôi. Còn như ai vẫn chưa chịu tin thế thì cứ là phải 'nhai' tiếp, nhai nữa, nhai mãi, cho tới khi nào chịu 'cúi đầu' tin mới thôi. Trong tu đạo nó khác với cách học tập của thế gian là vậy, rằng đừng có ham cao chuộng lạ làm gì, cứ cái gì hữu ích, thiết thực, quan trọng là cứ phải 'nhai' tới 'nhai' lui miết vậy, rồi sẽ có ngày tự 'vỡ' ra thôi, tức tự ngộ [nhận, hiểu] ra vấn đề thôi. Mà lạ cái là một khi nhận ra được vấn đề rồi thì cứ thích nói mãi, nói hoài về cái đó, càng nói càng thấy 'đã' càng thấy thấm, thấy thích, chứ chẳng phải nói hoài cảm thấy chán ngán đâu nhé, cái 'đạo' nó là như vậy, không riêng gì Pháp này mà các Pháp thế gian khác cũng vậy, cho nên chỉ cần ít nhưng 'chất' [có hương vị, có thực tiễn, thực hành], chứ đừng ham nhiều, hay ham cao chuộng xa, những điều mới lạ... nó phù phiếm, nhạt nhẽo lắm, không có hương vị [pháp vị] đâu.

Đoạn tiếp: Kẻ biết tốt - xấu chớ nên phỏng theo chí nguyện của bậc hành Bồ Tát đạo đã liễu sanh tử, mà cần phải chắc chắn được vãng sanh Tây Phương ngay trong đời này! Đã vãng sanh Tây Phương rồi mới học theo [chí nguyện những bậc hành Bồ Tát đạo đã liễu sanh tử] thì sẽ hữu ích.

Hành theo hạnh Bồ Tát đạo là sao? Có giống với Tự lợi lợi tha không? Câu trả lời là khác, khác nhiều lắm. Bởi một đằng là đã liễu sanh tử [Thánh nhân], còn một đằng hãy còn là phàm phu [còn ít nhiều của ngũ dục, tham sân si], rồi một đằng đã liễu thoát sanh tử [đã giải thoát] còn một đằng là chưa, vẫn còn ngụp lặn trong sanh tử, cho nên cái cần kíp nhất, quan trọng nhất của họ [phàm phu] ấy chính là phải giải thoát được cho chính mình cái đã, cái này là ưu tiên hàng đầu, còn lại chỉ là xếp sau, trợ duyên trợ đạo mà thôi, còn dạng kia [Bồ tát đạo] là người ta đã được giải thoát rồi nên nhiệm vụ của họ sẽ khác đi, không còn đặt nặng cái 'tự lợi' nữa mà nặng về cái 'lợi tha', thậm chí hoàn toàn vì 'lợi tha' không thôi, bởi cho dù thế nào đi nữa thì họ cũng đã giải thoát rồi, đâu sợ gì nữa đâu. Cho nên, bản chất hai bên là khác biệt hẳn nhau vậy, dĩ nhiên là các vị ấy xuống đây để độ sanh, lợi lạc chúng sanh thì đa phần cũng phải làm gương, biểu pháp cho chúng sanh học tập theo, nên cũng phải hành trì cho na ná giống như dạng phàm phu vậy, tức cũng phải tự lợi lợi tha, tự hành hóa tha, hay trước tự độ mình mới ra độ người vậy, chỉ là đến giai đoạn cuối thành tựu thì sự khác biệt mới được thể hiện rõ, lúc ấy sau một đời hành trì tu tập, tự lợi lợi tha thì sự thành tựu của các vị ấy là không thể so bì được [chẳng hạn như đạt công phu nhất tâm bất loạn hay tương tự]. Cho nên chúng sanh thường hiểu nhầm là phải làm sao công phu tu tập một đời để mong đạt được [trình độ, cảnh giới] như các Ngài, dạ không có đâu, không thể nào đạt nổi như thế đâu, có những cái phàm phu không thể nào đạt được. Chúng ta phải biết là 'Y pháp bất y nhân', tức học tập và thực hành theo các Pháp mà các Ngài đã chỉ dạy hay đã hành trì làm biểu pháp, chứ không phải 'học theo' những cái sở chứng [thành tựu] của bản thân các Ngài đã thành tựu [lúc cuối đời] được, bởi vậy, có sự khác biệt rõ rệt, rằng cũng cái Pháp đó, cũng hành trì như vậy, nhưng sự thành tựu [cảnh giới] thì không giống nhau, thậm chí khác biệt vời vợi luôn, nên vậy mới gọi là căn cơ, chủng tánh. Nhưng không sao cả, với Pháp môn này không quan trọng ở mức độ công phu [sâu, cạn] mà quan trọng ở chỗ khác, vấn đề là với phàm phu chúng ta chỉ cần một đời này được vãng sanh, liễu thoát sanh tử là mãn nguyện rồi, còn phẩm vị được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu, tự lợi lợi tha cùng sanh Cực Lạc với nhau nhiều ít thì tùy duyên tùy phận vậy, miễn là chúng ta đã dốc cạn lòng thành, tận tâm tận sức với họ, với những người hữu duyên là được. Rồi một khi đã về được cõi ấy, sau thời gian tu tập được "hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh" rồi thì lúc đó tha hồ mà phát tâm [mặc áo giáp] vào trong sanh tử để cứu giúp chúng sanh, tùy nguyện, tùy lực, thế nào cũng được. Chứ như giờ mình vẫn còn trong sanh tử, chưa thoát ra được mà đã học theo hạnh Bồ Tát đạo thì đó là hành 'vượt phận vượt lực', không khéo cả mình lẫn người đều chẳng đạt được lợi ích chân thật gì cả [tức chẳng thể giải thoát], rồi qua một lần 'tử sanh' thì thôi, đâu lại vào đó, một đời tu tập lúc trước thành 'rã mèn' ra hết, biến thành những nhân duyên xa vời hết, cho nên chúng ta thấy trong Kinh giáo cũng như các Chư Tổ Sư rất chú trọng chỗ "một đời" của Pháp môn này là vậy, rằng đừng hẹn đến đời sau tu tiếp.

Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.

 

Văn Sao Tam Biên, quyển 3

Thư trả lời hai vị cư sĩ Tiết Anh Huệ và Lưu Nhất Hạc

Đại Sư Ấn Quang

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.