Chánh kinh:
Phật cáo Di Lặc Bồ Tát, chư thiên nhân đẳng:
- Vô Lượng Thọ quốc, Thanh Văn, Bồ Tát, công đức trí huệ, bất khả xưng thuyết. Hựu kỳ quốc độ vi diệu an lạc, thanh tịnh nhược thử. Hà bất lực vi thiện, niệm đạo chi tự nhiên.
Phật bảo Di Lặc Bồ Tát [và] các hàng trời người rằng:
- [Trong] nước Vô Lượng Thọ Phật, công đức trí huệ của Thanh Văn, Bồ Tát chẳng thể nói kể. Cõi nước ấy lại vi diệu, an lạc, thanh tịnh như thế. Sao không ra sức làm lành, niệm đạo tự nhiên?
Giải:
Ðoạn kinh này nêu lên cả thánh chúng lẫn cõi nước để khuyến dụ chúng sanh.
Câu “Phật cáo Di Lặc” (Phật bảo Di Lặc) ngụ ý: Từ phẩm này trở đi, ngài Di Lặc là đương cơ chính, A Nan chỉ đóng vai phụ. Trong phẩm bốn mươi tám, Phật bảo ngài Di Lặc: “Ngã kim như lý tuyên thuyết như thị quảng đại vi diệu pháp môn, nhất thiết chư Phật chi sở xưng tán, phó chúc nhữ đẳng, tác đại thủ hộ” (Ta nay đúng như lý tuyên nói pháp môn vi diệu rộng lớn như thế này, [là pháp] được hết thảy chư Phật khen ngợi, phó chúc các ông thực hiện sự thủ hộ lớn lao). Như vậy Di Lặc Bồ Tát trong tương lai giáng sanh ắt sẽ tuân lời phó chúc của Phật mà diễn thuyết kinh này.
Sách Hội Sớ giảng câu “vi diệu, an lạc, thanh tịnh” như sau:
“Trang nghiêm siêu tuyệt nên bảo là ‘vi diệu’. Chẳng có khổ não nên bảo ‘an lạc’. Tướng vô lậu, tướng vô tướng nên bảo là thanh tịnh”. Ý nói: Hết thảy sự tướng cõi Cực Lạc đều là diệu tướng vô lậu. Hơn nữa, Thật Tướng chẳng phải là vô tướng, cũng chẳng phải là bất tướng nên mọi thứ hiện ra đều là Thật Tướng. Do mọi tướng hiện hữu trong cõi Cực Lạc đều là tướng vô lậu, tướng Thật Tướng nên Phật bảo là “thanh tịnh”.
Hai câu cuối của đoạn chánh kinh trên được Tịnh Ảnh Sớ giảng như sau: “Sao chẳng tận hết sức làm lành để cầu sanh nên bảo là ‘lực vi thiện’ (gắng sức làm lành). Niệm đạo thì tự nhiên vãng sanh nên bảo là tự nhiên”.
Sách Hội Sớ giảng: “Hai chữ ‘hà bất’ (sao chẳng) là lời khích lệ, dẫn đến hai nghĩa: Có hai điều lành! Thứ nhất là xưng danh niệm Phật, đây chính là điều lành căn bản. Thứ hai là rộng hành các điều thiện, hồi hướng vãng sanh.
Niệm gồm hai nghĩa: Niệm là năng niệm, đạo là điều được niệm (sở niệm).
Ðạo cũng có hai thứ:
- Thứ nhất là Di Ðà bổn nguyện, đây là tha lực đại đạo; chẳng cậy vào tự lực để tu thiện, hễ vượt thoát liền chứng nhập ngay nên gọi là tự nhiên.
- Thứ hai là đạo được chứng bởi tam thừa vô vi tự nhiên, tánh chẳng tạo tác nên cũng gọi là tự nhiên.
Tuy có hai nghĩa, nhưng chủ yếu là nghĩa thứ nhất”.
Tịnh Ảnh Sớ dùng ý “làm lành cầu được vãng sanh” để giảng chữ “lực vi thiện” (gắng sức làm lành), coi tự nhiên vãng sanh là ý nghĩa chữ “niệm tự nhiên”. Nói như vậy là nói vắn tắt. Ý Ngài Tịnh Ảnh là dùng công đức của việc lành để hồi hướng Tịnh Ðộ, tận lực cầu vãng sanh thì gọi là “lực vi thiện”. Giảng như vậy rất hay.
Tiếp đó, Ngài nói: Tự nhiên vãng sanh chính là “niệm đạo chi tự nhiên”. Giảng như vậy quá vắn tắt, cách giải thích của Hội Sớ hay hơn, chỉ thẳng ra: Xưng danh niệm Phật là cội gốc của làm lành và đó là chánh hạnh. “Rộng làm các điều thiện, hồi hướng cầu được vãng sanh” cũng là “làm lành” nhưng chỉ là trợ hạnh. Nêu lên cả chánh hạnh lẫn trợ hạnh, chánh phụ phân minh chính là ưu điểm của Hội Sớ.
Ðến ý “đạo chi tự nhiên”, sách Hội Sớ càng giảng hay hơn nữa. Sách nêu ra hai nghĩa: Một là dùng tha lực để vượt thẳng [khỏi tam giới] cho nên là tự nhiên; hai là do vô vi vô tác nên là tự nhiên; nhưng nghĩa thứ nhất là chánh yếu. Thuyết này cực hay, vì điểm mầu nhiệm của Tịnh Tông thật đúng như sách Yếu Giải nhận định: “Từ sự trì đạt được lý trì” nên chỉ cần thật thà niệm Phật thì tự nhiên đạt được những điều như “vô tác, vô vi”… (...)
Ảnh minh họa: "Lại này Xá-lợi-phất, cõi nước Phật kia, thường trỗi nhạc trời, vàng ròng làm đất, ngày đêm sáu thời, mưa hoa Mạn-đà-la cõi trời. Chúng sanh ở cõi ấy, cứ mỗi sáng sớm, thường dùng đãi y, đựng các hoa đẹp, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, vừa đến giờ ăn, trở về nước mình, ăn cơm, kinh hành"
[Kinh A Di Đà bằng tranh]
Chúng ta đến với Phẩm 32, Thọ Lạc Vô Cực. Sau khi giới thiệu về công đức, trí huệ của hàng Bồ Tát nơi cõi Cực Lạc, trong phẩm tiếp theo này Phật giới thiệu về "thọ" và "lạc", tức thọ mạng và sự an lạc nơi cõi ấy. Rằng cả hai cái này đều "vô cực" cả, tức vô cùng tận, vô lượng vô biên, không thể tính đếm được. Trong phân đoạn đầu này, Phật thuyết rằng "Hựu kỳ quốc độ vi diệu an lạc, thanh tịnh nhược thử. Hà bất lực vi thiện, niệm đạo chi tự nhiên" [Cõi nước ấy lại vi diệu, an lạc, thanh tịnh như thế. Sao không ra sức làm lành, niệm đạo tự nhiên?]. Chúng ta đọc phần chú giải, trích lục của các Ngài để hiểu rõ hơn về nghĩa lý đoạn Kinh văn này. Có chỗ hơi khó hiểu ở câu "Hà bất lực vi thiện, niệm đạo chi tự nhiên", ở đây là một câu nói bỏ lững của Phật, nhưng xâu chuỗi với câu đầu, thì chúng ta thấy câu trước thì Phật tán thán cõi nước vi diệu, an lạc, thanh tịnh như thế, rồi câu sau là "Sao không ra sức làm lành, niệm đạo tự nhiên?" [để làm gì?], rõ ràng xâu chuỗi hai câu thì chúng ta thấy Phật khuyên chúng sanh rằng "Sao không ra sức làm lành, niệm đạo tự nhiên?" để được về cõi ấy mà thọ hưởng các sự thù thắng như vi diệu, an lạc, thanh tịnh... [chứ cứ muốn lưu lại nơi cõi uế độ này mà chi]. Chỗ "vi thiện, niệm đạo tự nhiên" đã được các Ngài chú giải, liễu nghĩa nhiều rồi, nhưng chung quy lại đó chính là "thọ trì" Kinh giáo [Tịnh Độ], thì "tự nhiên" sẽ được sanh về cõi ấy vậy. Chỗ "tự nhiên" ở đây ý là chúng sanh không phải được về đó bằng sức lực của chính mình, mà là nhờ cậy vào Tha Lực đại đạo vậy [thì tự nhiên được sanh về], còn nhiệm vụ của chúng sanh đó là chỉ cần "thọ trì", tức ra sức "vi thiện, niệm đạo" [chánh, trợ thế nào thì các Ngài đã chú giải rõ trong đó]. Thật sự rằng, cõi nước vi diệu, an lạc như thế [đã đành rồi] nhưng rõ ràng là có cái cách để được sanh về đó [một cách cụ thể, rõ ràng], không phải quá khó hay vượt tầm với của chúng sanh, thế nên Đức Phật ngài mới thốt lên câu hỏi như thế. Chứ thật ra thì cõi nước vi diệu thù thắng cũng có rất nhiều, hằng hà sa số, trong Pháp giới, nhiều nơi cũng rất vi diệu thù thắng đấy chứ không phải không đâu, nhưng vấn đề nằm ở chổ cách thức, con đường để được sanh về đó là như thế nào, tức cái Pháp tu để được sanh về đó là gì, liệu nó có khả thi, hay phù hợp với các căn cơ của mọi loại chúng sanh hay không mà thôi, đó mới là vấn đề cốt lõi. Cho nên Đức Phật Thích Ca [cùng tất cả Chư Phật muôn phương] đều đồng tán thán, xiển dương, và khuyến khích chúng sanh ra sức tu học để được sanh về riêng cái cõi ấy. Bởi vậy, chúng ta mặc dù cũng chỉ là hàng phàm phu tục tử sống trong Ngũ trược này lại sanh trong thời Mạt cách xa thời Phật tại thế đã lâu, nhưng vẫn 'có phần' trong đó như thường, miễn là chúng ta chịu "thọ trì" những lời Pháp trong Kinh Phật đã thuyết ra, vốn rất rõ ràng, tường minh, rằng phần nào [phẩm nào] thì dành cho hạng nào, từ cao đến thấp đều có phần cả, đều có cơ hội được sanh về cả, chúng ta yên tâm, đừng vì thấy những cảnh giới này kia [quá vi diệu, thù thắng] mà đâm ra 'sợ', rằng Phật đã nói rõ rằng, tất cả đó đều là "tự nhiên" [mà có được như thế], chứ chẳng phải ở năng lực tu hành của chúng sanh mà ra, hay nói cụ thể hơn, đó là từ Nguyện lực của Phật [trong 48 Đại Nguyện] mà thành ra được như thế.
Chúng ta nói Kinh giáo chút vậy thôi, giờ chúng ta tiếp tục nói về việc hành trì tu tập. Thật sự rằng qua việc học tập thâm nhập Kinh giáo này kia chúng ta thấy với Pháp môn này thì về giáo lý để cho 'đủ sài' thôi thì không quá khó hay quá nhiều, ngược lại là khác, rất đơn giản, cô đọng, ngắn gọn, thật sự chỉ là vài dòng văn tự của Kinh giáo mà thôi, hoàn toàn không nhiều, không phức tạp. Còn về hành trì mới là một 'cuộc chiến' đường dài, thậm chí cả cuộc đời [hay nửa đời, một phần gì đó] chứ không ít, cho nên cần có sự dung thông giữa đời và đạo, tương trợ nương đỡ nhau, thành một khối thống nhất trong thân tâm ta, như vậy mới bền lâu và vững chãi, cũng như càng lúc càng tấn tới hay phát triển mạnh lên được. Cho nên ngoài cái Chánh hạnh [tức Pháp tông yếu] thì các Pháp trợ hạnh, trợ duyên, trợ tu cũng rất quan trọng, rằng không thể thiếu trong tu tập, đó là như: Tịnh nghiệp tam phước, Lục độ vạn hạnh... bởi những cái này chính là nền tảng, gốc rễ cùa cái 'cây Bồ Đề' của ta mà ta đang vun trồng vậy, thật sự. Bởi xét về Lý, thì về Tông chỉ là thế, giống như gieo trồng cái hạt đó thì tương lai sẽ là cây đó trổ ra đúng cái quả đó, không thể khác được, nhưng từ lúc gieo hạt đến khi nảy mầm, rồi sinh trưởng lớn mạnh, ra hoa kết trái là cả một quá trình dài hơi chứ không đơn giản, mà muốn cái cây sinh trưởng phát triển tốt, để về sau đơm hoa kết trái nhiều, tức thu hoạch tốt thì cần phải châm sóc, vun bồi cho thật tốt, liên tục, không ngừng nghỉ. Đặc biệt là gốc rễ phải thật mạnh thật khỏe, ăn sâu cắm chặt vào lòng đất, như thế thì cho dù có trải qua bao phong ba bão tố, vật đổi sao dời gì đi nữa nó vẫn vững vàng, hay cùng lắm gãy cành gãy nhánh thôi, vẫn lại tiếp tục sinh trưởng phát triển trở lại như thường, đó hoàn toàn là nhờ vào cái nền tảng, gốc rễ vững chắc vậy. Cho nên chúng ta cần tin sâu nhân quả, một đời gieo nhân tốt lành cho chúng sanh, học theo đúng Chánh Pháp, ắt cuối đời gặt quả tốt thôi. Cho nên, nói gì nói, lý gì lý, cũng vẫn phải thực tiễn là siêng năng, chịu khó, và kiên trì, thế nên trong Kinh Phật nói hẳn một chương ở cuối đó là "Cần Tu Kiên Trì" là vậy, rằng lý huyền lý diệu, hay cô đọng, đơn giản gì đi nữa thì cái phẩm chất cần thiết xuyên suốt nhất đó là sự "kiên trì". Rằng "kiên trì" đến bao giờ? Câu trả lời dĩ nhiên là hết cuộc đời này? Vẫn chưa chuẩn xác, mà câu trả lời là "mãi mãi", tức không có cái đích cuối [hay gần đến, gần cuối] nào cả, rằng cứ tu mãi như thế đi, rồi chuyện gì đến sẽ đến thôi, rằng khi nào thọ mạng hết thì Phật sẽ báo và rước thôi [cái này phải tin]. Chúng ta không có kiểu mong đợi cho nhanh cho chóng [đến đích], bởi kiểu 'chờ đợi' như thế theo thời gian dễ sinh lui sụt, thất thoái hay dễ bào mòn cái đạo tâm đi, bởi phàm phu chúng ta là vậy, cho nên cứ đi mãi, khi nào tới đích thì tới thôi, lâu mau dài ngắn không cần biết, sao cũng được. Với lại một điều nữa rằng thời thế hiện nay và càng về sau thì càng phải nổ lực học tập nhiều hơn, bám thật chặt vào Kinh giáo, đó chính là chiếc phao cứu sinh cho chúng sanh thời Mạt vậy, rằng thời trước thì có thể dựa vào thiện căn sẳn có [tức túc căn] nên nhiều khi chỉ cần gặp đủ duyên là phát khởi rồi hành trì, giữ vững cả đời cho đến lúc mãn phần, thành tựu, còn thời nay thật sự phải nương dựa vào Kinh giáo, rằng càng đi sâu vào thời Mạt [tức càng xa thời Phật tại thế] thì lại càng phải bám chặt vào Kinh giáo, không rời, thật sự vậy, như thế mới khỏi sợ bị lầm đường lạc lối. Nói như thế không phải là lối 'tu mù' [tức chỉ biết có một câu Phật hiệu mà niệm mà hành, chẳng cần biết thêm giáo lý gì nữa] không phải không còn tác dụng, mà là tùy ở hoàn cảnh, nhân duyên. Chẳng hạn, dạng như tu quãng ngắn, quãng cuối, như các cụ già, hay các ca sắp ra đi hay vào giai đoạn cuối, thì có thể chỉ cần như thế, còn các dạng tu đường dài hàng chục năm, hàng mấy chục năm, thì rõ ràng không phù hợp, nếu không muốn nói rất nguy hiểm, bởi như thế thì dạng bỏ cuộc, bỏ tu, rẽ hướng, hay lầm đường lạc lối, 'lên bờ xuống ruộng' này kia thì hằng hà sa số, thật sự đa phần đó là do biếng nhác hay không tha thiết trong việc học tập, nương tựa Kinh giáo hàng ngày vậy. Chúng ta thấy ngày xưa, khi Đức Phật còn tại thế thì tại sao các vị lại phải luôn thân cận, bên cạnh Đức Phật để tu học? Rồi các vị ấy chỉ trong thời gian rất ngắn đã chứng quả vị A La Hán, liễu thoát sanh tử, có vị chỉ một tuần, có vị chỉ mười ngày, hai tuần... Cho nên tu học cần phải thân cận Tam Bảo [Phật, Pháp, Tăng], không thể rời xa, càng về sau lại càng phải cố gắng mà thân cận, sâu sát vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 32. Thọ Lạc Vô Cực
Ngài Hoàng Niệm Tổ
