“Dĩ Ngôn Giáo Giả Tụng, Dĩ Thân Giáo Giả Tùng”

NPSTD7

 

“Dĩ Ngôn Giáo Giả Tụng, Dĩ Thân Giáo Giả Tùng”

Thư trả lời cư sĩ Lưu Dung Các
Nhận được thư đầy đủ, từ mùa Đông năm ngoái Quang giảo chánh sách vào ban đêm nên mục lực bị tổn thương; vì thế cự tuyệt hết thảy những chuyện thù tiếp thư từ. Vợ chồng ông muốn quy y thì nay tôi đặt pháp danh cho mỗi người, viết trong một tờ giấy khác. Còn như khai thị thì cảm thấy quá tốn sức, vì thế tôi gởi cho ông mười một gói sách. Nếu chịu lắng lòng nghiên cứu sẽ tự lợi, lợi tha đều có thừa! Từ rày đừng gởi thư đến nữa, do mục lực chẳng thể thù tiếp được! Cũng đừng giới thiệu người khác đến quy y. Sang năm sớm muộn gì tôi cũng rời khỏi Tô Châu ẩn tránh thật xa, mong hãy sáng suốt soi xét.

 

Người niệm Phật sẽ nhờ vào Phật lực sanh về Tây Phương

Thời cuộc hiện tại nguy hiểm vạn phần, bất luận già - trẻ - trai - gái đều nên chí tâm niệm Nam-mô A Di Đà Phật và Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát để dự phòng. Kiếp vận hiện thời có trốn cũng trốn không được, có đề phòng cũng chẳng thể đề phòng! Chỉ có cậy vào lòng Từ của Phật, chắc sẽ được che chở trong cơn nguy hiểm nhỏ. Nếu đại hiểm họa xảy đến, có lẽ mọi người sẽ đều cùng chết sạch. Tuy người niệm Phật chẳng thể riêng một mình thoát khỏi kiếp nạn, tránh khỏi cái chết, nhưng chết rồi sẽ đi về đâu, mỗi người một khác! Người niệm Phật sẽ nhờ vào Phật lực sanh về Tây Phương. Dẫu chẳng thể sanh về Tây Phương, cũng sanh trong đường lành, trọn chẳng cùng đọa trong ác đạo như người không niệm Phật. Chẳng thể không biết đến ý này! (Ngày mồng Chín tháng Chạp năm Dân Quốc 22 - 1933)


Thư trả lời cư sĩ Lý Nhĩ Thanh

“dĩ ngôn giáo giả tụng, dĩ thân giáo giả tùng”
Đạo học Phật nằm ở chỗ thật hành. Nếu chỉ bày vẽ bề ngoài chẳng tu thật hạnh thì cũng chỉ được cái danh xuông bề ngoài mà thôi! Đã muốn vãng sanh Tây Phương, tự lợi, lợi người, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, thật vì sanh tử phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương. Trên là cha, mẹ, chú, bác, cho đến anh em trai, chị em gái, thê thiếp, con cái và các tôi tớ, cùng là xóm giềng, làng nước, thân thích, bằng hữu, phàm hết thảy những ai quen biết đều nên dùng những điều trên đây để khuyên lơn. Nếu chính mình chú trọng thực hành thì người khác sẽ nhìn theo bắt chước làm lành. Đấy gọi là “dĩ ngôn giáo giả tụng, dĩ thân giáo giả tùng” (dùng lời lẽ để giáo hóa thì bị tranh cãi, dùng hành động để giáo hóa thì được mọi người thuận theo).

 

Lâu ngày chầy tháng, người ta sẽ tự tin tưởng rồi thuận theo
Chuyện thế gian - xuất thế gian không một chuyện nào chẳng lấy thân làm gốc. Nếu tự mình chẳng thật hành mà dạy người khác hành thì chỉ có bậc thượng trí mới có thể thuận theo [vì bậc thượng trí mới thấy được] lời dạy đó hữu ích, chẳng cần so đo người [dạy bảo] ấy có làm được hay không? Nếu chẳng phải là bậc thượng trí, ắt sẽ bài bác trong lòng, chê bai sau lưng, đâm ra làm cho người ta tạo đại khẩu nghiệp! Muốn thật sự lợi người thì chuyện gì cũng phải trọn hết bổn phận của chính mình, trong hành vi thường ngày thảy đều bao gồm những cơ duyên giáo hóa người khác. Lâu ngày chầy tháng, người ta sẽ tự tin tưởng rồi thuận theo, cho nên sẽ tự nhiên đạt được hiệu quả! Nay đặt pháp danh cho ông là Tông Thanh, Tông (宗) là chủ, là gốc, Thanh (清) là vĩnh viễn không cấu nhiễm. Phàm những tập khí tham - sân - si - mạn v.v… đều phải đối trị, chẳng để cho chúng dấy lên thì ba nghiệp thanh tịnh tương ứng với Phật! Lúc bình thường đã tương ứng thì khi lâm chung sẽ tự được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.

 

Không gì bằng khuyên người ta ăn chay, niệm Phật, cầu sanh Tây Phương! Tiếp đó...
Tào Huệ Xuyên pháp danh là Tông Huệ. Huệ (惠) là nhân ái. Tâm thường giữ ý niệm nhân ái thì sự nhân ái sẽ được thể hiện khắp trong mọi hành vi thường ngày. Trong ấy, sự nhân ái lớn nhất không gì bằng khuyên người ta ăn chay, niệm Phật, cầu sanh Tây Phương! Tiếp đó, không gì lớn bằng dạy người khác hãy khéo dạy bảo con cái. Nếu con người ai nấy đều khéo dạy [con cái] thì thiên hạ thái bình, nhân dân yên vui. Tông Huệ có ý nghĩa đại lược như vậy đó. Nếu khéo thấu hiểu thì lợi ích lớn lắm! Còn đối với lợi ích, phương pháp tu trì Tịnh Độ thì hãy nên xem trong Gia Ngôn Lục, Văn Sao, ở đây không viết cặn kẽ!


Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ, từ rày đừng gởi thư đến nữa, gởi đến quyết không trả lời vì mục lực lẫn tinh thần đều chẳng thể thù tiếp được! Nếu bưu cục nhận gởi sách, sẽ gởi cho hai vị một hai thứ sách thiết yếu; còn nếu họ không cho gởi thì đành thôi! (Ngày Rằm tháng Chín năm Dân Quốc 22 - 1933)
Đường bưu điện đã thông, nay gởi cho các ông hai gói sách, mỗi người một phần, xin hãy chia ra.

gffd121111

Ảnh minh họa: "Gia bần tri hiếu tử"

Thư đầu, đoạn: Thời cuộc hiện tại nguy hiểm vạn phần, bất luận già - trẻ - trai - gái đều nên chí tâm niệm Nam-mô A Di Đà Phật và Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát để dự phòng. Kiếp vận hiện thời có trốn cũng trốn không được, có đề phòng cũng chẳng thể đề phòng! Chỉ có cậy vào lòng Từ của Phật, chắc sẽ được che chở...

Thời cuộc của các Ngài thập phần nguy hiểm, vậy thời cuộc hiện nay thì thế nào? Liệu có khá hơn chăng? Dạ vâng, chắc chắc cũng khá hơn một chút. Nói chung càng về sau xã hội đời sống con người ngày càng văn minh hiện đại lên, cái ăn cái mặc không còn quá nhọc nhằn như thời trước, nhưng bây giờ lại phát sanh những nhu câù khác mà trước đây không có. Nói chung là mỗi thời đều có những cái khó khăn gian khổ nhất định cả, chứ chẳng có thời nào sướng ích cả. Hiện tại trên thế giới mặc dù nạn đói khát còn ít hơn nhưng thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh vẫn xảy ra liên miên khắp nơi, hết chỗ này đến chỗ khác, không ngừng nghỉ, đó là do điều gì? Đó chính là do túc nghiệp của chúng sanh cố kết lâu ngày chày tháng, rồi gặp duyên ở đâu thì nó 'trào' ra ở đó thôi, chứ đừng nghĩ là nó chừa ra chỗ nào cả đâu, chẳng qua là chưa đủ duyên khởi mà thôi. Nói chung là khắp nơi trên thế giới đều có hiểm họa rình rập cả, đó là kết quả của cả quá trình: sát nghiệp, gian nghiệp, dâm nghiệp, tham sân si nghiệp... cố kết lâu ngày mà ra, trải khắp nơi, chỗ nhiều chỗ ít, không có chỗ nào không có. Cho nên bình thời đây chúng ta cần giữ giới nghiêm minh, điều phục tập khí, cùng ra sức chuyên cần tu tập niệm Phật, niệm Bồ Tát, hành thiện... để nhỡ tai kiếp có xảy ra bất thình lình thì còn được Phật cứu, một là tai qua nạn khỏi còn không nếu kiếp nạn quá lớn thì 'cùng chết' nhưng sẽ được Phật dang tay ứng cứu về Cực Lạc luôn, không phải bị đọa vào Tam đồ như các thành phần không chịu tu tập. Cho nên, hành giả Tịnh Độ chẳng sợ hãi gì cả, vì đã có sự chuẩn bị, dự phòng mọi thứ rồi, còn lại thì tùy duyên tùy nghiệp thôi. Muốn vậy thì phải có Tín Nguyện tâm chắc chắn vững chãi, không dao động không thay đổi trước mọi hoàn cảnh nhân duyên xảy đến vậy.

Thư thứ hai, đoạn: Đạo học Phật nằm ở chỗ thật hành. Nếu chỉ bày vẽ bề ngoài chẳng tu thật hạnh thì cũng chỉ được cái danh xuông bề ngoài mà thôi! Đã muốn vãng sanh Tây Phương, tự lợi, lợi người, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành...

Nói chung những cái này chúng ta không còn xa lạ gì nữa, đã được đọc qua nhiều lần rồi. Chung quy là ở chỗ 'nói thì dễ, làm được mới khó', bởi vậy khi làm được thì người ta mới tin mà hành theo, chứ còn nói suông không thì họ sẽ bán tín bán nghi, vì 'trăm nghe không bằng một thấy'. Cho nên, thân hành mới khó chứ ngôn hành thì ai ai cũng có thể nói được. Rồi còn dạng nói một đằng làm một nẻo nữa chứ, cái này phạm nhiều thứ: Thứ nhất, là vọng ngữ; thứ hai, người thất tín, tức không đáng tin; thứ ba, là biết mà không hành không tránh; và cái nữa đó là gây mất niềm tin hoặc hiểu sai lệch [về các Pháp đó] cho người nghe, cái tội này mới nặng. Còn như trường hợp dùng ngôn hành và cả thân hành luôn thì quả tuyệt vời, đây là điều tốt nhất trong những cái, còn hơn cả chỉ có thân hành không, bởi 'nói đươc, làm được' là viên mãn nhất, vì sao vậy? Bởi cái này khó hơn hết tất cả, khó hơn cả chỉ có làm được mà không nói, bởi khi đó có khi làm được có khi không, quy tội ít, còn một khi đã nói mà quyết tâm làm được thì giống như dù có khó khăn cỡ nào cũng phải vượt qua mà hoàn thành, không hẹn lần hẹn lữa, không thay đổi điều chỉnh gì cả, cho nên cái này khó nhất mà công đức cũng viên mãn nhất vậy. Đối lập với trường hợp này là nói được nhưng không làm được, tức dạng thất bại hoàn toàn, như thế thì tốt nhất đừng nên nói gì cả thì hay hơn, tội nghiệp sẽ nhẹ hơn.

"Đã muốn vãng sanh Tây Phương, tự lợi, lợi người, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành...": Cái này thì hầu như thư nào về khuyến tu Tịnh Độ Ngài cũng nhắc đi nhắc lại, đây là những đạo lý thế gian pháp, tức là những nền tảng gốc rễ trong tu học. Ví như chúng ta học đạo là đang trồng cái cây Bồ Đề, mà những điều đây là những gốc rễ của cái cây 'Đạo' của chúng ta vậy. Cho nên Đạo có phát triển, có lớn mạnh, bền lâu, có thành tựu, đơm hoa kết trái thì cần phải có gốc rễ vững chắc, an toàn, đủ sức 'chịu đựng'. Cho nên cái chỗ "giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận" đặc biệt quan trọng với hành giả Tịnh Độ. Còn các Pháp môn khác thì sao, có cần thiết không? Thật ra thì tất cả đều cần như thế cả, dĩ nhiên tùy hình tướng tu sĩ xuất gia hay tại gia, hay thường trụ mà có những 'bổn phận' phù hợp với gian đình, đoàn thể. Phật Pháp nói chung cho tất cả các Pháp môn đều là lấy hiếu làm gốc cả, chứ không riêng gì Tịnh Độ, mà chữ "hiếu" ở đây bao trùm, mang ý nghĩa rất rộng lớn, từ thân đến sơ, từ hữu duyên đến vô duyên, từ đồng loại đến chúng sanh, hữu vi đến vô vi... Nói chung là từ Tịnh Nghiệp Tam Phước, Thập Thiện Nghiệp Đạo, Lục Độ Vạn Hạnh... đều bao gồm trong một chữ "hiếu" này.

Đoạn: Nếu chính mình chú trọng thực hành thì người khác sẽ nhìn theo bắt chước làm lành. Đấy gọi là “dĩ ngôn giáo giả tụng, dĩ thân giáo giả tùng”...

Cái câu này nếu dịch sát nghĩa tức là: Dùng lời lẽ để giáo hóa thì hành giả sẽ 'tụng' theo, tức không hẳn là tranh cãi mà là cũng dùng chính cái miệng để 'hành' theo, nói theo, chứ chưa hẳn họ đã chịu thực hiện theo [lời nói đó], tức chưa thật sự tâm phục khẩu phục, còn dùng hành động để giáo hóa thì được mọi người thuận theo, hành theo. Nói chung là dùng cái gì để giáo hóa thì họ sẽ học theo y như vậy, bằng chính cái đó. Mà tu học quan trọng ở thực hành, gọi là tu hành, nên cần hành cho được, chứ còn nói suông thôi thì phỏng có ích gì. Giáo hóa chúng sanh cũng vậy, quan trọng là để họ thực hiện cho được thì mới có lợi ích chân thực, chứ còn giáo hóa chỉ để cho họ biết, họ thuộc, nhưng hành không được thì cũng bằng không, thậm chí nhiều cái lại thành ra có hại hơn vì đã biết mà vẫn cố vi phạm, làm không đúng. Về thân giáo thì rõ ràng cần thời gian lâu hơn, để chi? Để cho họ 'thực chứng', bởi thấy một lần, hai lần, đôi ba lần, rồi nhiều lần [mình làm thế] thì tự nhiên sẽ cảm hóa họ dần, sự nghi ngờ sẽ tan đi, niềm tin càng được chứng thực, rồi càng bị thu phục... Tâm lý con người ta là vậy, cái gì cũng phải qua thời gian 'kiểm chứng', không phải một hai lần mà họ chịu tin ngay đâu. Cho nên, với phàm phu chúng ta, Pháp nào cũng vậy, thường là phải "tự lợi, lợi tha" đi đôi với nhau, thứ lớp như vậy, như thế mới là chân thực, lâu bền và hữu hiệu nhất vậy.

Các đoạn còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.

 

Văn Sao Tam Biên, quyển 1

Đại Sư Ấn Quang

Như Hòa chuyển ngữ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.