Chánh kinh:
Hành Bồ Tát đạo, chư vãng sanh giả, giai đắc A Duy Việt Trí, giai cụ kim sắc tam thập nhị tướng, giai đương tác Phật. Dục ư hà phương Phật quốc tác Phật, tùng tâm sở nguyện, tùy kỳ tinh tấn tảo vãn, cầu đạo bất hưu, hội đương đắc chi, bất thất kỳ sở nguyện dã. A Nan! Dĩ thử nghĩa lợi cố, vô lượng vô số bất khả tư nghị vô hữu đẳng đẳng vô biên thế giới, chư Phật Như Lai, giai cộng xưng tán Vô Lượng Thọ Phật sở hữu công đức.
Hành Bồ Tát đạo, những người vãng sanh đều đắc A Duy Việt Trí, đều đầy đủ sắc vàng ba mươi hai tướng, đều sẽ thành Phật. Muốn làm Phật ở cõi nước Phật phương nào đều như sở nguyện, tùy theo người ấy tinh tấn sớm hay chậm. Cầu đạo chẳng ngơi thì sẽ đạt được, chẳng bị thất vọng. Này A Nan! Do nghĩa lợi này, vô lượng vô số bất khả tư nghị vô hữu đẳng đẳng vô biên thế giới chư Phật Như Lai đều cùng khen ngợi tất cả công đức của Vô Lượng Thọ Phật.
Giải:
Câu “hành Bồ Tát đạo” ngụ ý những người đã vãng sanh đều là Ðại Thừa.
Tiếp đó, kinh nói đến cái quả nhân hạnh. Nhân dẫu thiên sai vạn biệt, nhưng quả chỉ một vị: Hành nhân Ðại Thừa hết tuổi thọ sanh về cõi kia đều “đắc A Duy Việt Trí”, đều đạt thân sắc vàng tía, đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu; chẳng những thân tướng giống như đức Phật mà còn “giai đương tác Phật” (đều sẽ thành Phật).
Những người vãng sanh nguyện làm Phật ở phương nào thì không ai lại chẳng được thành tựu xứng với tâm nguyện; bởi vậy, kinh nói: “tùng tâm sở nguyện” (đều như sở nguyện). Còn lúc nào sẽ thành Phật lại tùy thuộc vào hành nhân “tinh tấn tảo vãn” (tinh tấn chậm hay mau) khác nhau. Sớm tinh tấn thì sớm thành Phật; đây chính là điều sai biệt trong lẽ bình đẳng. Bình đẳng mà có sai biệt nên có thành Phật sớm hay chậm. Ðiều bình đẳng trong sai biệt chính là đều sẽ thành Phật, nên kinh nói: “Cầu đạo bất hưu, hội đương đắc chi, bất thất kỳ sở nguyện dã” (Cầu đạo chẳng ngơi thì sẽ đạt được, chẳng bị thất vọng). Nghĩa là: Cái tâm cầu đạo tinh tấn chẳng ngơi thì đều sẽ thành Phật, quyết định chẳng trái nghịch với bổn nguyện được thành Phật.
Câu “Phật cáo A Nan” diễn tả sự kiện đức Thế Tôn muốn nhắc hội chúng chú tâm nên Phật kêu tên vị đương cơ của pháp hội là ngài A Nan để dạy: “Dĩ thử nghĩa lợi cố” (Do nghĩa lợi này). Ở đây, chữ “lợi” (利) có đến hai nghĩa:
1. Một là cứng bén như kim cang phá hoại được hết thảy mà chẳng bị hết thảy phá hoại.
2. Hai là lợi ích do pháp môn này có thể ban bố cái lợi chân thật cho hết thảy chúng sanh.
Nói cách khác: Toàn thể nghĩa lý pháp môn vãng sanh là kim cang trí huệ nên bảo là lợi (kiên lợi: cứng bén). Ðồng thời, “lợi” còn có nghĩa là do đại từ đại bi lưu xuất phổ độ chúng sanh bằng cái lợi chân thật rốt ráo nên bảo là “lợi”. Vì vậy, chư Phật trong vô lượng, vô biên không thể tính kể thế giới “giai cộng xưng tán Vô Lượng Thọ Phật sở hữu công đức” (đều cùng khen ngợi tất cả công đức của Vô Lượng Thọ Phật).
Phàm phu vãng sanh đều là Bất Thoái Chuyển, địa vị ngang với Bổ Xứ Bồ Tát. Ðây chính là điều cả mười phương thế giới không nơi nào có nổi. Do vậy, mười phương Như Lai đều cùng khen ngợi Vô Lượng Thọ Phật.

Ảnh minh họa: "Này Xá-lợi-phất, Phật A Di Ðà thành Phật đến nay đã mười kiếp. Lại này Xá-lợi-phất, Ðức Phật kia có vô lượng vô biên chúng đệ tử Thanh văn đều là bậc đại A-la-hán, không thể tính đếm mà biết được; các chúng Bồ-tát cũng nhiều như thế." (Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta đến với phần cuối trong phẩm 25, Chánh Nhân Vãng Sanh. Trong phần này Phật nói về những cái quả có được sau khi được sanh về cõi ấy như "giai đắc A Duy Việt Trí, giai cụ kim sắc tam thập nhị tướng, giai đương tác Phật" [đều đắc A Duy Việt Trí, đều đầy đủ sắc vàng ba mươi hai tướng, đều sẽ thành Phật]. A Duy Việt Trí, tức A Bệ Bạt Trí [Bồ tát] , nghĩa là Bồ tát Bất Thoái chuyển, tất cả chúng sanh được sanh về cõi ấy đều được như vậy, bất thoái chuyển, rồi ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, và cái quan trọng nhất đó chính là "giai đương tác Phật" [đều sẽ thành Phật]. Bởi chính vì các yếu tố này, đặc biệt là hai cái "chứng Bất Thoái" và "đều sẽ thành Phật" nên phải nói là Thập phương chúng sanh đều phải 'tranh nhau' mà về, vì sao vậy? Bởi chắc có lẽ không có cõi nước nào khác được như vậy cả, cho nên từ hạng phàm phu cho đến Đẳng Giác Bồ Tát đều phải 'tranh thủ' mà về bởi hai cái cột mốc này là hai cái khó nhằn nhất, nếu tự lực tu chứng, rằng sẽ mất rất nhiều thời gian, hàng vạn vạn A tăng ký kiếp tu tập tinh tấn may ra mới chứng đắc được những cột mốc này chứ chẳng chơi, và không phải hành giả nào cũng đạt được, bởi phần đông đến đó là cứ 'trồi lên trụt xuống' mãi thôi. Nhưng nếu ở thế giới Cực Lạc thì đó lại là một câu chuyện khác, tất cả đều sẽ đạt được hết cả, còn nhanh chậm thì "tùy kỳ tinh tấn tảo vãn, cầu đạo bất hưu" [tùy theo người ấy tinh tấn sớm hay chậm]. Nói chung thì ở đâu cũng vậy, tùy theo mức độ tinh tấn mà nhanh chậm, cao thấp khác nhau thôi, ở cõi ấy cũng vậy chẳng khác, nhân nào thì quả nấy thôi, những cảnh giới này kia như Y báo, Chánh báo chỉ là những trợ duyên trợ lực, còn mức độ thành tựu cao thấp, nhanh chậm ra sao thì tùy thuộc vào chính sự tu tập hành trì của hành giả đương nhân vậy.
Câu "Do nghĩa lợi này, vô lượng vô số bất khả tư nghị vô hữu đẳng đẳng vô biên thế giới chư Phật Như Lai đều cùng khen ngợi tất cả công đức của Vô Lượng Thọ Phật", trong đó có Phật Thích Ca ở cõi Ta Bà này cũng khen ngợi, tán thán, xiển dương không ngớt công đức của Phật Vô Lượng Thọ và cõi nước ấy, thế nên chúng ta mới có cơ hội được tiếp cận và học tập theo Pháp môn vi diệu này vậy. Nói tóm lại là Chư Phật khắp thập phương không thể không diễn nói về Pháp môn này, vì sao? Bởi thứ nhất là muốn phổ độ chúng sanh [một cách rốt ráo viên mãn cho đến thành Phật quả] thì các Chư Phật không thể không nói đến Pháp môn này, thứ hai là chính các Ngài khi còn là tu nhân thì cũng hầu như đều nương nhờ Pháp môn này mà được thành tựu Phật quả, thế nên khi đã thành tựu Đạo quả rồi thì cứ phải triển chuyển không dứt không nghỉ thôi, với một lý do nữa, đó là trong Đại nguyện thứ 17 "Nguyện được Chư Phật xưng tán" Phật đã phát nguyện nếu không được như vậy thì thề không thành Chánh Giác, thế nên một khi Phật đã thành Phật thì chắc chắc tất cả Chư Phật thảy đều tán thán, không thể khác được, cho nên chỉ cần một vị Phật ở phương nào đó mà không tán thán Phật A Di Đà cùng cõi nước của Ngài thì chắc chắn Phật A Di Đà sẽ 'bất thủ Chánh Giác' ngay, tức là hoặc không thể thành Phật hoặc sẽ 'từ bỏ' Phật quả, dĩ nhiên các điều này sẽ không bao giờ xảy ra cả, nên chắc chắn tất cả Chư Phật đều tán thán hết cả, không sót một vị Phật nào, và cũng nhờ đó chúng sanh trong Thập phương không có quốc độ nào [tức có Phật xuất hiện] lại không biết đến Pháp môn Tịnh Độ này cả. Đó chính là Nguyện lực hoằng sâu của Phật A Di Đà cũng như của tất cả các Chư Phật là vậy.
Các ngữ nghĩa, văn tự này kia trong đoạn Kinh văn này chúng ta đọc chú giải của các Ngài để nắm rõ hơn. Bây giờ chúng ta tiếp tục nói một chút về việc học tập gầy dựng Tín Nguyện tâm trong quá trình tu học. Chúng ta biết trong Di Đà Bổn Nguyện Phật đã tuyên [và Phật Thích Ca thuyết lại] rằng có chỗ "nãi chí thập niệm" [cho đến mười niệm, nhẫn đến mười niệm], ý là như thế nào? Ý là chúng sanh phải "niệm" [Phật], rằng không quy định cụ thể như thế nào, bởi hoàn cảnh nhân duyên mỗi vị mỗi khác, nhưng vấn đề là phải "niệm" mới được, không niệm không được, suốt đời không gián đoạn, không ngừng nghỉ, từ lúc phát tâm đến khi mãn phần, cho đến hạng bét cũng phải ráng niệm được vài niệm. Cho nên xét về mặt hành trì là không đồng nhất, không giống nhau cho các căn cơ hoàn cảnh khác nhau, bởi vậy Phật mới nói "nãi chí thập niệm" chứ không nói [một con số, một thời lượng] cụ thể dành cho tất cả được, mà là "nãi chí", tức tùy theo, cho đến [từ cao đến thấp, rồi bét]. Nói kỹ chỗ này để nhấn mạnh rằng chúng ta đừng quên cái từ "nãi chí" này nhé, bởi phần đông chúng ta hay 'quên' cái cụm từ này lắm đấy. Chẳng hạn như Pháp Biên Địa, rằng cứ là lâm chung phải "thập niệm", mười niệm, một niệm [cuối cùng], rằng y hệt đồng như nhau cả, đều phải như vậy cả, với tất cả căn cơ, hoàn cảnh nhân duyên [đều phải như vậy], như thế thì cái từ "nãi chí" Phật tuyên Phật thuyết trong Kinh về đâu đây hởi? Hay là chúng ta cố tình 'giấu nhẹm' nó đi, rằng nó bị 'dư', không cần thiết, không có tác dụng gì ở đây? Hay là Phật tuyên bị 'thừa' chỗ này [nên chúng ta 'ngắt bỏ' nó đi]? Dạ Phật tuyên [và Phật Thích Ca thuyết lại] không thừa không thiếu bất cứ một từ một chữ nào cả đâu, cho nên đừng thêm [chẳng hạn thêm vào chữ 'lâm chung' ở đó] mà cũng đừng bỏ bớt bất cứ chữ gì ở đây cả. Rằng chỗ nào cần phải phát khởi Tín tâm thì cứ 'y Kinh Phật thuyết' mà tin thôi, vì sao? Bởi đơn giản đó chính là lời Phật tuyên, lời Phật thuyết, không thể chối cải vào đâu được [để phản biện, không chịu tin]. Còn như để khẳng định rằng tất cả lời Phật [Di Đà] tuyên đều đã thành tựu, là chân thật, không hư dối, thì cứ từ cái Lý "Phật đã thành Phật" mà suy luận ra thôi, bởi rằng nếu Bổn Nguyện chưa thành tựu thì sao Phật thành Phật cho được! Rất đơn giản, rất cô đọng như vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 25. Vãng Sanh Chánh Nhân
Ngài Hoàng Niệm Tổ
