Thư thứ nhất
Do niệm Phật cầu sanh Tây Phương là cậy vào Phật từ lực
Chúng sanh đời Mạt muốn liễu sanh thoát tử ngay trong đời này mà nếu chẳng niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chắc chắn sẽ chẳng thể đạt được! Vì sao vậy? Do không có sức để đoạn Hoặc. Do niệm Phật cầu sanh Tây Phương là cậy vào Phật từ lực nên kẻ chưa đoạn Hoặc cũng có thể vãng sanh. Đã vãng sanh rồi thì ba thứ Hoặc - Nghiệp - Khổ đều cùng tiêu diệt. Ví như mảnh tuyết rớt vào lò luyện lớn, chưa đến nơi đã tan mất. Do Tây Phương là cảnh giới của Phật, Bồ Tát, nên phàm phu hễ [sanh] đến đó, phàm những gì chẳng mong đoạn đều tự đoạn.
Nếu ông muốn liễu sanh tử hãy nên thỉnh Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (có bán ở Phật Học Thư Cục tại Thượng Hải) đọc kỹ sẽ tự nhiên hiểu rõ ràng. Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ, từ nay đừng gởi thư đến nữa, gởi đến cũng không trả lời. Do Văn Sao là một bộ sách khai thị, cần gì phải có một lá thư [để khai thị] nữa? Hơn nữa, Quang sẽ chết trong sáng tối, chẳng thể thù tiếp được ư? (Ngày Mười Hai tháng Tám)
Thư thứ hai
Thư gởi hôm Mười Bốn đã nhận được, do bận việc chẳng thể trả lời ngay. Năm đồng sẽ dùng làm tiền in Văn Sao Tục Biên. Quang vốn chẳng muốn in nữa, cho nên từ năm Dân Quốc 15 (1926), [sau khi] Trung Hoa Thư Cục ấn hành bản Tăng Quảng Văn Sao hoàn chỉnh, tất cả văn tự thù tiếp đều nhất loạt chẳng giữ lại bản thảo, nhưng Đương Gia chùa Báo Quốc là thầy Minh Đạo sai người lén sao chép. Năm Dân Quốc 24 (1935), thầy ấy mất, những bản thảo sao chép được giao cho Đương Gia chùa Linh Nham [là thầy Diệu Chân]. Thầy ấy lại sưu tập những lá thư từ các tờ bán nguyệt san v.v…, Quang chỉ đành thuận theo ý thầy ấy; hiện thời đã cử người sao lại theo lối Chân Thư để khỏi bị sai ngoa khi sắp chữ.
Đã muốn sanh về Tây Phương, ắt phải ba nghiệp thanh tịnh
Ông quyết định muốn cầu sanh Tây Phương, hãy nên thỉnh Ấn Quang Pháp Sư Tăng Quảng Văn Sao và Gia Ngôn Lục từ Phật Học Thư Cục tại ngay nơi mình ở. Nếu có lúc rảnh rỗi thì thỉnh Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (hai loại sách này đều do Quang đứng ra ấn hành), Tịnh Độ Ngũ Kinh (thuộc loại kinh sách để đọc tụng, cũng do Quang ấn hành) để xem thì những điểm chánh yếu của pháp môn Tịnh Độ sẽ đều biết rõ. Đã muốn sanh về Tây Phương, ắt phải ba nghiệp thanh tịnh, hãy nên kiêng giết, ăn chay, cũng khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con đều cùng ăn chay niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Sanh về Tây Phương sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, sao nỡ để bậc sanh ra ta và những người “đồng khí liên chi” với ta chẳng được hưởng lợi ích thù thắng này? Đối với người chung quanh, người trong cõi đời còn phải nên khuyên họ tu trì, huống là cha mẹ quyến thuộc của chính mình ư?
Hãy nên lập chí quyết định
Cần biết rằng: Niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là pháp môn đặc biệt trong nhà Phật. Đa số kẻ tham Thiền giảng kinh chẳng đề xướng pháp này, hãy nên lập chí quyết định, bất luận họ nói như thế nào, ông trọn chẳng nghe theo lời họ rồi tu pháp khác! Vì sao vậy? Do Niệm Phật là cậy vào Phật lực để liễu sanh tử. Có lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, chí thành khẩn thiết niệm thì ai nấy đều giải quyết xong xuôi [sanh tử]. Những pháp môn khác đều phải đoạn sạch phiền não (tức Kiến Hoặc và Tư Hoặc trong tam giới) rồi mới có thể liễu được! Sự khó - dễ [giữa pháp môn này và các pháp môn khác] giống như sự cách biệt giữa trời và vực vậy (Ngày Mười Bảy tháng Tám).

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà lớn nhất thế giới, bằng đồng, tại Nhật Bản. Tượng cao 120m, trọng lượng tổng thể 4000 tấn, độ vươn của tay trái 18m, chiều cao của đầu 20m, chiều dài của mắt 2,5m, chiều dài của miệng 4m, chiều dài của mũi 1,2m, chiều dài của tai 10m, chiều dài ngón tay trỏ 7m. Cả phần nền móng và đài sen đều cao 10m.
Thư thứ nhất, đoạn đầu: Chúng sanh đời Mạt muốn liễu sanh thoát tử ngay trong đời này mà nếu chẳng niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chắc chắn sẽ chẳng thể đạt được! Vì sao vậy? Do không có sức để đoạn Hoặc.
Phật đã huyền ký rằng thời Mạt Pháp tu Tịnh Độ dễ thành tựu, còn tu các Pháp khác thì "muôn ức người tu hành, hiếm có ai đắc đạo", điều này thì chúng ta ai ai cũng đã rõ rồi. Lý do là vì tu các Pháp môn khác thì phải tự đoạn Hoặc chứng chân mới liễu sanh tử được, tức là phải tiêu sạch sẽ nghiệp chướng của bản thân, chẳng còn mảy may gì nữa mới được, chứ còn sót lại tí Hoặc nghiệp [tức Phiền não] là chắc chắn lại phải thọ tiếp sanh tử, nói cách khác là Phiền não phải đoạn trừ sạch sẽ mới được [nhập vào dòng Thánh quả], lưu ý ở đây là 'đoạn' chứ không phải dạng 'điều phục' hay không 'dấy khởi' lên nữa, tức nói nôm na là ai nói gì làm gì với mình thì đều chẳng phiền não gì hết cả, không còn chấp trước, tham đắm, tức đã đoạn tuyệt hẳn tham, sân, si. Với các Pháp môn tự lực đó là công phu đạt cảnh giới đã đoạn Kiến hoặc và Tư hoặc, còn với hành giả Tịnh Độ đó là đạt Nhất tâm bất loạn vậy. Ở đây cũng cần nói thêm, với các vị đạt cảnh giới như vậy thì mọi thứ đến đi với các vị, đối người tiếp vật này kia thì đều không còn phát sanh phiền não, tham sân si, chứ không phải mọi thứ đối với các vị đều là hài lòng, là hoan hỉ, hay tất cả đều 'tốt' hết cả đâu nhé, đây là điều mà giới đồng tu chúng ta hay bị nhầm lẫn, cho rằng cần phải học tập theo các Ngài, rằng mọi thứ đều tốt, rằng cái gì cũng tốt, không nên chấp trước gì cả, mọi thứ hãy tùy duyên. Thật ra là các Ngài ấy nói rằng mọi thứ đều tốt đẹp hết, đó là các Ngài thuận theo chúng sanh mà hoan hỉ nói vậy thôi, chứ thật ra trong thâm tâm các vị ấy đều phân biệt rất rõ ràng thế nào là đúng sai, hay dở, phải quấy hết cả, vì các Ngài đã đạt trình độ minh tâm kiến tánh cả rồi, nên có thể nhìn thấu rõ bản chất mọi sự vật hiện tượng, rằng cái nào là tốt, là xấu, cái nào đúng, cái nào sai, cái nào nên làm, cái nào không nên làm, bởi trong tu học quan trọng nhất là cái này. Chứ chẳng phải phàm phu chúng ta thấy các Ngài cái gì cũng nói lời từ ái, rằng 'tốt đẹp' hết cả, rồi cứ tưởng đó là thật rồi cứ thế học tập theo, riết rồi chẳng phân biệt được đâu là đúng đâu là sai, đâu là chánh đâu là tà để tu học, cái gì cũng muốn chạy theo, như thế thì quá nguy hiểm, càng tu như càng đâm đầu vào ngõ cụt vậy. Cho nên, hãy còn là phàm phu thì hãy thực hành được những điều đơn giản, dễ hành, chân thật làm được, làm đúng đi đã, nếu sai thì phải biết sửa đổi ngay, chứ đừng học đòi theo những cảnh giới cao siêu của các Ngài, rằng cái gì cũng tốt đẹp, cái gì cũng 'tùy duyên' hết thì thôi, như thế thậm chí còn tệ hơn là không tu, thua cả một người bình thường thiện lành tuy chưa biết tu nhưng họ biết phân định được đâu đúng đâu sai, đâu chánh đâu tà, cái gì nên làm cái gì không nên. Đặc biệt với hành giả Tịnh Độ điều này đặc biệt quan trọng, không thể thiếu, đó là phải có chánh kiến, chánh tư duy, như thế mới thâm nhập được vào Tịnh Độ Tông, cụ thể ở đây là Pháp Tông chỉ tông yếu gầy dựng Tín Nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Như thế thì mới chân thật gầy dựng Tín Nguyện tâm cho chân thật đầy đủ được, chứ chẳng phải nói rằng với Pháp môn Tịnh Độ là chỉ đơn giản hành trì niệm Phật cầu sanh, ngoài ra chẳng cần gì khác. Dạ, điều này với Pháp Biên Địa thì còn khả dĩ chấp nhận, bởi với Pháp này lúc cuối lâm chung mới đúng là một cuộc chiến thật sự, còn bình thời đây thì đã có yêu cầu gì đâu, bình thời đây đâu phải thời điểm quyết định, chỉ là 'luyện công' thôi mà, lúc cuối mới là 'ra trận' thật sự, mới là 'thực chiến' vậy. Cho nên chúng ta thấy dạng theo Pháp này [rồi đợi lúc cuối cậy vào Pháp Hộ Niệm] thường thấy họ có vẻ 'an lạc tự tại' lắm, cứ niệm Phật, hành trì, tu tạp tu chuyên gì cũng được, chẳng chấp gì cả, cái gì cũng 'tùy duyên', hoan hỉ hết cả, bất luận đúng sai, tốt xấu, miễn là giữ tâm 'thanh tịnh', tránh mọi phiền nhiễu, rắc rối, hay làm cho 'động tâm động trí'... Kiểu này mới xem qua tưởng là tu trì quá tốt, quá đúng đường đúng lối rồi. Dạ vâng, đúng lắm, nhưng khi hỏi tới rằng vậy đời này có quyết định hay chắc chắn vãng sanh hay không thì do quen kiểu 'tùy duyên' và 'hoan hỉ' rồi nên chắc là cũng 'tùy duyên' luôn thôi, rằng vãng sanh được thì tốt còn không thì cũng 'hoan hỉ' thôi, đợi đời sau tu tiếp, dạng là như thế đó. Cho nên, với hành giả Tịnh Độ mà quyết tâm đi theo con đường 'chính ngạch' Tín Nguyện niệm Phật cầu sanh Tât Phương, thì cần có sự 'trạch pháp', tức biết chọn lọc, đừng để các tư tưởng của cái Pháp tự lực nó lấn át, nó làm chủ cái tâm là thôi, chịu thua, kiểu gì cũng bị chệch phương hướng, mục tiêu, kiểu như tu tập mà cái gì cũng tu phước tu duyên, mưu cầu công đức phước báu nhiều ít, rồi chẳng có chánh kiến, chánh tư duy gì cả, riết rồi chẳng phân biệt được đâu là đúng sai, chánh tà, riết rồi cái gì cũng thành 'tùy duyên', 'hoan hỉ' hết, rồi cái gì cũng chạy theo, bởi cái gì cũng là 'tốt đẹp' cả, chẳng có cái gì là xấu ác, nên răn nên tránh cả, rồi duyên tốt đến cũng 'tùy duyên' mà duyên xấu đến cũng 'tùy duyên' nốt, bởi 'hữu duyên' mà, như thế thì thôi, còn gì để nói nữa, bởi riết rồi sẽ 'vãng sanh cũng được' mà 'chẳng vãng sanh cũng không sao'. Dạng này mà bảo tin chắc chẳng nghi, giữ suốt đời không đổi, thì làm sao kham nổi, bởi đơn giản là cả đời đã 'huân tập' như thế làm cho cái tâm lực trở nên quá hời hợt, nông cạn, thiếu hẳn chiều sâu, sức mạnh, chánh kiến, chánh tư duy, sự vững chắc của bản tâm, dạng này cả đời còn giữ được tu Tịnh Độ, niệm Phật cầu sanh đã là may rồi, chứ ở đó mà yêu cầu gầy dựng, giữ vững Tín nguyện niệm Phật cầu sanh.
Thư thứ hai: Đã muốn sanh về Tây Phương, ắt phải ba nghiệp thanh tịnh, hãy nên kiêng giết, ăn chay, cũng khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con đều cùng ăn chay niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Sanh về Tây Phương sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, sao nỡ để bậc sanh ra ta và những người “đồng khí liên chi” với ta chẳng được hưởng lợi ích thù thắng này?
"Đã muốn sanh về Tây Phương, ắt phải ba nghiệp thanh tịnh", ba nghiệp thanh tịnh ở đây là gì? Đó là thân, khẩu, ý, đều cần phải thanh tịnh, tức là đừng có tạo nghiệp xấu ác nữa, tức "đoạn ác, tu thiện" cho cả ba nghiệp này. Dĩ nhiên phàm phu chúng ta thì không phải cứ nói cái là thực hiện được ngay, mà cái gì cũng cần thời gian, sửa đổi, uốn nắn dần, cho nên việc "đoạn ác, tu thiện" cũng thế, phải từ từ, khắc phục từng bước, từ dễ đến khó, tư đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, mỗi ngày tốt lên một chút, chứ chẳng thể 'một bước lên mây' ngay được đâu, tu hành chúng ta phải thực tế, khế lý khế cơ, bởi nói kiểu gì thế nào ai nói cũng được, nhưng chân thật làm được mới là khó, mới là đem lại lợi ích chân thật. Như chẳng hạn về ý, phiền não tham sân si còn chưa thể khống chế điều phục nổi, gặp chuyện đụng duyên còn 'nổi sân' rào rào như thế thì cái 'điều phục', khống chế, giảm thiểu, còn chưa làm xong, thì ở đó mà 'đoạn trừ' hay 'diệt trừ' nổi gì. Cho nên tu hành phải bắt đầu từ những điều đơn giản, thực tế, dễ làm trước, và phải chân thật làm cho được, rồi mới dần lên cao, phàm phu chúng ta là phải như vậy, còn các Ngài với thần lực cùng túc căn khác biệt, thì nhiều khi từ 'ngộ' đến 'chứng' là gần với nhau thật.
"Hãy nên kiêng giết, ăn chay, cũng khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con đều cùng ăn chay niệm Phật cầu sanh Tây Phương", đây chính là một phần quan trọng trong "giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tự lợi lợi tha..." vậy. Bởi trong các điều thiện thì việc khuyên bảo, hướng dẫn họ phát tâm tu Tịnh Độ niệm Phật cầu sanh Tây Phương là việc thiện lành ý nghĩa nhất, cũng là "trọn hết bổn phận" rốt ráo nhất. Bởi chúng ta biết, những người trong cùng một nhà, một gia đình là thường có nhân duyên sâu dày với nhau nhất, cho nên bất kể thuận duyên hay nghịch duyên, thì đó đều là dễ độ với nhau hơn cả, còn dạng vô duyên với nhau, hoặc nhân duyên cạn mỏng, không sâu dày mới khó độ. Cho nên nhiều khi mình chưa độ được người thân, đó là do có thể nhân duyên chưa tới, nên không thể ép buộc được, hoặc giả việc tu trì của chúng ta còn non kém, nên chưa đủ 'thần lực' để độ họ, cho nên việc này cần kiên trì, không nản chí, và cũng cần dùng nhiều phương tiện thiện xảo, 'ngũ dục' gì đó để thâu phục dần họ chuyển phát tâm, đôi khi cũng cần phải chịu 'tổn mình, lợi người', 'lùi một bước tiến ba bước' để dần trước hết thu phục nhân tâm họ rồi sau mới hướng họ vào đạo mới dễ, nói chung là cần tận lực 'tùy nghi phương tiện' độ chúng sanh vậy, sau rốt mới gọi là 'tùy duyên' nhé.
Tiếp theo: Hãy nên lập chí quyết định, bất luận họ nói như thế nào, ông trọn chẳng nghe theo lời họ rồi tu pháp khác! Vì sao vậy? Do Niệm Phật là cậy vào Phật lực để liễu sanh tử. Có lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, chí thành khẩn thiết niệm thì ai nấy đều giải quyết xong xuôi [sanh tử].
Thế nào là "lập chí quyết định"? Tức là "tin chắc, chẳng nghi"? Dưới một góc độ nào đó thì giống giống như vậy, nhưng có lẽ cũng chưa rốt ráo bằng cái "tin chắc, chẳng nghi" [chí tâm tin ưa, bất sanh nghi hoặc] này được, đó là do cái này bao hàm cả Pháp Biên Địa trong đó. Thật vậy, với Pháp Biên Địa, hành giả cũng phải nên "lập chí quyết định" [đời này vãng sanh, liễu thoát sanh tử] mới được, không có kiểu tu hành 'được chăng hay chớ' được đâu. Cho nên, "lập chí quyết định" ở đây, đó là xét đến Nguyện tâm chân thật, thiết tha thôi, còn Tín tâm thì hoặc có thể "chí tâm tin ưa" [tin chắc chẳng nghi, bất sanh nghi hoặc], hoặc giả theo Pháp Biên Địa là "lâm chung phải chí tâm niệm Phật cầu sanh về" [bằng mọi giá], tuy cái tâm này chưa thể sánh bằng cái tâm "bất sanh nghi hoặc" kia [do còn phải đợi đến lúc cuối], tức thật sự cũng chưa chân thật, đầy đủ, nhưng [có cái tâm] như thế thì cũng được Chư Phật, Chư Bồ Tát, Tam Bảo gia trì cho trên suốt quãng đời hành đạo rồi, bởi vì sao? Đó là vì họ cũng đã chân thật một đời tu tập, hành trì, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, và mọi công đức tu trì đều hồi hướng về Tây Phương cả, nên dưới một góc độ nào đó, họ cũng đã chân thật vâng hành theo lời Phật dạy [dù rằng chưa thật sự đúng như lý như pháp, tức chưa thật sự Y giáo phụng hành]. Chỉ có điều dạng này [tức theo Pháp Biên Địa, hay cậy vào Pháp Hộ Niệm lúc cuối], do bị kẹt trong cái kiến giải rằng 'lâm chung phải chánh niệm niệm Phật Phật mới lai nghinh' cho nên dẫu tu trì hay giỏi cỡ nào, tinh tấn cở nào đi nữa thì vẫn không cách gì như lý như pháp hay y giáo phụng hành được, do là bị vướng vào một trong những cái 'nạn' mà Phật đã nêu ra ["tà kiến"], thành thử ra "pháp vi diệu Như Lai khó tin [chân thật, đầy đủ]", đành chỉ còn trông mong vào con đường 'tiểu ngạch' vậy [Pháp Biên Địa].
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Thư trả lời cư sĩ Châu Văn San
Đại Sư Ấn Quang
