Chánh kinh:
Kỳ Hạ bối giả, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc. Dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc. Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc vãng sanh, công đức trí huệ thứ như Trung bối giả dã.
Bậc Hạ là [những người] giả sử chẳng thể làm các công đức thì nên phát tâm Bồ Ðề, một dạ chuyên niệm A Di Ðà Phật, hoan hỷ tin ưa, chẳng sanh ngờ vực, dùng tâm chí thành nguyện sanh cõi kia. Người ấy lâm chung mộng thấy đức Phật đó cũng được vãng sanh. Công đức trí huệ kém hơn bậc Trung.
Giải:
Bậc Hạ vãng sanh có ba nhân duyên: Một là phát Bồ Ðề tâm; hai là một dạ chuyên niệm; ba là chí thành nguyện sanh. So với bậc Trung, bậc này chỉ chẳng thể làm các công đức.
“Hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc” (Hoan hỷ tin ưa, chẳng sanh ngờ vực) chính là “chí tâm tín nhạo” (chí tâm tin ưa) đã nói trong đại nguyện “mười niệm ắt được vãng sanh”.
“Dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc” (Dùng tâm chí thành nguyện sanh cõi kia) chính là tâm chí thành và tâm hồi hướng phát nguyện được nói trong Quán Kinh.
Hơn nữa, do ba bậc vãng sanh đều nói “đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm” (hãy nên phát tâm Bồ Đề vô thượng) nên Tịnh Ảnh Sớ mới viết: “Trong ba bậc này, địa vị tuy sai khác, nhưng muốn được vãng sanh thì đều phải phát tâm cầu Ðại Bồ Ðề, chuyên niệm đức Phật ấy, hồi hướng phát nguyện thì mới được vãng sanh”.
Về câu “mộng kiến bỉ Phật” (mộng thấy đức Phật ấy) có đến hai cách giải thích ý nghĩa hơi khác nhau:
1. Một là như ngài Vọng Tây cho rằng trước hết là mộng thấy, lúc lâm chung chính mắt thấy. Ngài viết: “Do vì ba bậc đều có mộng thấy, mắt thấy. Giác kinh nói về bậc Thượng như sau: ‘Ư kỳ ngọa thùy trung, mộng kiến Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, cập chư Bồ Tát, A La Hán, kỳ nhân thọ mạng dục chung thời, Vô Lượng Thanh Tịnh Phật tắc tự dữ chư Bồ Tát, phiên phi hành nghênh chi’ (Trong lúc ngủ nghỉ, mộng thấy Vô Lượng Thanh Tịnh Phật và các Bồ Tát, A La Hán. Người ấy lúc mạng sắp hết thì đích thân Vô Lượng Thanh Tịnh Phật và các Bồ Tát, A La Hán bay đến đón tiếp).
Bậc Trung cũng mộng thấy đức Phật. [Ðó là] điềm báo trước được vãng sanh, lúc lâm chung [đức Phật sẽ] đến đón. Do bổn nguyện lợi ích thù thắng nên phải có đủ hết. Nếu Phật chẳng đến đón, hóa ra là bổn nguyện dối bày. Còn trong kinh văn chẳng nói đến đón là chỉ để phân biệt sự sai khác giữa ba bậc, nghĩa là: Bậc Thượng là Báo Phật [đến đón], bậc Trung là Hóa Phật, bậc Hạ là mộng Phật. Thật ra, sau khi mộng thấy Phật, ắt thấy Phật đến đón. Do đó, Quán Kinh nói ‘hóa Phật đến đón’. Ác nhân còn được như thế, huống là thiện nhân?”
Lời biện luận trên đây có ba điểm chính:
* Ðức Phật Di Ðà có bổn nguyện lâm chung tiếp dẫn nên nếu với bậc Hạ, Ngài chẳng đến nghênh tiếp thì sẽ trái nghịch với bổn nguyện.
* Theo Quán Kinh, bậc Hạ đều là kẻ ác mà Phật còn đến tiếp đón, bậc Hạ trong kinh này đều là người lành, lẽ nào Phật lại chẳng đón!
* Trong hai bậc Thượng và Trung được nói trong hai bản dịch đời Hán và Ngô đều bảo trước mộng thấy Phật, sau đấy lúc lâm chung mới thấy Phật nên bậc Hạ cũng phải hưởng tương tự. Vì vậy, kinh này bảo là “mộng thấy” là nói về điều trước khi lâm chung. Quán Kinh bảo thấy Phật là nói lúc lâm chung. Ðấy là thuyết thứ nhất.
2. Riêng Hội Sớ bảo rằng đích thật là Phật đến đón nhưng phảng phất như trong giấc mộng. Sách viết: “Mộng thấy đức Phật ấy: Quán Kinh nói người trong ba phẩm Hạ trong khoảnh khắc lâm chung, lửa địa ngục hiện đến, tuy Phật có đến đón, nhưng thấy mơ hồ chẳng rõ, tựa hồ như trong giấc mộng. Nếu chẳng phải vậy thì làm sao thần thức an nhàn vãng sanh nổi?” (...)

Ảnh minh họa: "Này Xá-lợi-phất, Phật A Di Ðà thành Phật đến nay đã mười kiếp. Lại này Xá-lợi-phất, Ðức Phật kia có vô lượng vô biên chúng đệ tử Thanh văn đều là bậc đại A-la-hán, không thể tính đếm mà biết được; các chúng Bồ-tát cũng nhiều như thế."
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta đến với phần tiếp theo trong phẩm 24, Tam Bối Vãng Sanh. Trong phần này Đức Phật nói về bậc Hạ, rằng "Kỳ Hạ bối giả, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc". Chúng ta để ý thấy cả ba bậc vãng sanh đều có là "đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật", còn sự khác nhau giữa các bậc đó là "tu chư công đức [nhiều, ít] và có "xả gia ly dục" hay không, tức mức độ trì kinh giữ giới cao thấp ra sao. Riêng trong phần bậc Hạ này thì ngoài "phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật" còn phải có "hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc" nữa mới được, tức "chí tâm tin ưa" như trong Đại Nguyện 18 nói. Vậy câu hỏi đặt ra là vậy trong các bậc Thượng và Trung có cần điều này không ["chí tâm tin ưa"], tại sao không thấy Phật nhắc đến điều này? Thật ra thì trong cái "phát tâm vô thượng Bồ Đề" đã có cái "chí tâm tin ưa" này rồi, bởi đây chính là Tín Nguyện tâm, nếu cái tâm này chân thật, đầy đủ đó tức là tin sâu nguyện thiết, bất sanh nghi hoặc vậy. Nhưng sở dĩ Phật không nhắc đến cái này trong hai bậc trên [Thượng và Trung] đó là vì nếu hành giả đương nhân ở đẳng cấp cao, căn tánh vượt trội, thì có thể gầy dựng sức công phu của mình cho đến thành tựu về mặt công phu, đạt Nhất tâm bất loạn, hay tương tự gần như vậy [thành khối, thành phiến] như thế thì chỉ cần chí thành nguyện sanh cõi ấy nữa là đủ điều kiện để vãng sanh vào hai thứ bậc trên [lại có thể kết hợp đồng thời "tu chư công đức" nhiều ít nữa], như thế thì nếu đã thành tựu được về mặt công phu thì không nhất thiết phải có "hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc", tức "chí tâm tin ưa" nữa, bởi vì đã đạt tới cảnh giới cần thiết ['nhất tâm', hay 'chí tâm']. Bởi vậy, nên có nhiều vị đi theo đường lối gầy dựng công phu [tự lực niệm Phật], rồi cho đến khi thành tựu được về mặt công phu này, thì cũng chưa hẳn là đã đạt về mặt Tín tâm đầy đủ đâu, tức chưa hẳn đã có "chí tâm tin ưa", "bất sanh nghi hoặc" [đối với Bổn Nguyện tiếp dẫn], mà rằng họ chỉ tin tưởng được vãng sanh nhờ vào sức công phu của chính mình mà thôi, hay nói cách khác là họ không theo đường lối Tín Nguyện, niệm Phật, nói rõ hơn là họ chẳng tin theo đường lối này. Cho nên với hàng phàm phu hạ căn thấp trí như chúng ta mà tu theo đường lối gầy dựng công phu này thì khả năng cao hoặc là thất bại trong đời này, hoặc là cuối đời trông cậy vào Pháp Biên Địa thôi, chứ chẳng còn cách nào khác nữa đâu, thật sự là vậy. Vậy tại sao lại có rất đông người tin theo đường lối này, nếu không muốn nói là đại đa số? Lý do rất đơn giản đó là Pháp này dễ tin hơn [nên dễ phổ quát quần chúng hơn], và Pháp Biên Địa cũng thế, tức cái Pháp cho rằng 'lâm chung chánh niệm niệm Phật Phật mới lai nghinh' rất dễ tin theo, nên nói người ta dễ dàng tiếp nhận và tu tập theo hơn cái Pháp kia nhiều. Mặc dù so về mức độ thù thắng và khế lý khế cơ trong thời Mạt này thì giữa chúng đúng là một trời một vực vậy, ấy là chưa kể một đằng được sanh vào thẳng Chánh quốc, một đằng nếu được sanh phải vào Biên Địa.
Trở lại phần Kinh văn này, chỗ "Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc vãng sanh" [Người ấy lâm chung mộng thấy đức Phật đó cũng được vãng sanh]. Trong phần chú giải của các Ngài, thì có nhiều ý kiến, quan điểm khác biệt nhau, chúng ta có thể đọc để tham khảo. Tuy nhiên, theo tư kiến cá nhân thì phần chú giải của Hội Sở mới là chuẩn xác hơn, tức là "Riêng Hội Sớ bảo rằng đích thật là Phật đến đón nhưng phảng phất như trong giấc mộng". Vì sao như vậy? Chúng ta thấy rằng, trong các phần trước Phật nói, bậc Thượng thì lâm chung Báo Phật đến đón, tức báo thân Phật thật [như ở cõi Cực Lạc] đến đón, vì sao được vậy? Vì các vị này đã vượt khỏi địa vị phàm phu, gia nhập dòng Thánh ngay ở hiện tiền này, tức đã đoạn sạch phiền não tham sân si rồi, cho nên một khi vãng sanh về cõi ấy là sẽ 'hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh' ngay, cho nên ngay khi còn ở cõi này, lúc lâm chung cũng được chứng kiến đích thân báo thân Phật cùng Thánh chúng đến đón về, rồi về cõi ấy cũng hoa nở thấy Phật [y như vậy], ngộ vô sanh nhẫn ngay. Còn như các bậc thấp hơn, như bậc Trung và bậc Hạ, thì do cảnh giới tu tập chưa tới, còn phiền hoặc, chưa tiêu hết nghiệp, nên nếu được vãng sanh cũng là nhờ Pháp Tín Nguyện niệm Phật, dạng đới nghiệp vãng sanh thôi, cho nên với cảnh giới ấy, thì chưa thể thấy Phật 'thật' ngay hiện tiền này được, mà lúc lâm chung chỉ có Hóa Phật hay dạng "mộng kiến bỉ Phật" thôi, tức như các Ngài diễn giải, đó là "phảng phất như trong giấc mộng" [thấy hóa Phật đến đón], bởi dạng này một khi sanh về cõi ấy cũng phải ở trong hoa sen tiếp tục tu tập, đợi đến khi tiêu sạch nghiệp thì mới được 'hoa khai kiến Phật'. Tuy nhiên các dạng này đều được sanh vào Chánh quốc cả, nên vẫn thụ hưởng đầy đủ tất cả các y báo, chánh báo thù thắng nơi cõi ấy hết cả, tức cũng được gần gủi thân cận các Bồ Tát, Thánh chúng, nghe Pháp, vui như Tỳ Kheo lậu tận..., khác biệt với dạng vãng sanh theo Pháp Biên Địa là phải vào Biên Địa một thời gian, khi nào phá trừ sạch tâm nghi hoặc rồi mới được vào Chánh quốc, gia nhập vào đúng phẩm vị, cảnh giới, công đức trí huệ mà mình vốn có được. Còn như các kiến giải khác [như của Ngài Vọng Tây] rõ ràng là không chuẩn xác rồi, vì sao? Bởi chúng ta thấy Phật nói rõ, rằng "thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc vãng sanh" [tức "Người ấy lâm chung, mộng thấy đức Phật, cũng được vãng sanh"], chúng ta cứ Kinh văn sao thì hiểu y như vậy, nên ở đây Phật nói rõ lúc lâm chung mộng thấy Đức Phật, thì cứ hiểu đúng y như vậy, đừng có suy diễn khác ra, sẽ thành không đúng. Rằng cái nào Phật nói lúc "lâm chung" là đúng lúc "lâm chung", cái nào Phật không nói lúc "lâm chung" thì là không nhất thiết là lúc "lâm chung", đừng có suy diễn hay thêm bớt bất cứ thứ gì khác nữa, kẻo lại hiểu không đúng nghĩa lý Kinh văn, trở thành 'tà kiến'. Cho nên chúng ta đọc sách, nghe Pháp, phải có sự trạch pháp, tức có sự chọn lọc, không phải đều nghe theo mọi thứ, trừ Kinh văn Phật thuyết ra. Hơn nữa, ngay cả lời Kinh Phật thuyết đi nữa thì chúng ta cũng phải tùy Pháp môn mà nương theo tu học, bởi Phật thuyết vô vàn Pháp môn, mỗi Pháp có một Tông yếu khác nhau, không thể giống nhau, nên chẳng thể 'đánh đồng' cho tất cả được. Chẳng hạn, với các Pháp tự lực, thì cần phải tu triệt để Giới - Định - Tuệ, tiêu trừ sạch sẽ phiền nghiệp Tham sân si, thì mới thành tựu [giải thoát] được. Nhưng với Tịnh Độ Tông đó là một câu chuyện hoàn toàn khác, nếu đem tư tưởng tự lực vào đây mà bảo rằng cũng phải diệt trừ sạch sẽ phiền não hay tiêu sạch nghiệp mới được thành tựu [vãng sanh] thế thì nguy to, rất dễ thành ra hỏng mất đại sự sanh tử một đời này. Bởi vậy nên nhiều khi 'chánh kiến' trong Pháp môn này lại trở thành 'tà kiến' của Pháp môn khác là vậy, gọi là 'lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia' là vậy, hỏng hết. Cho nên rằng, tu học Pháp môn nào thì [về Tông chỉ] phải lấy đúng lời Kinh Phật thuyết của Pháp môn đó mà tu học, nương theo, tin tưởng, không hoài nghi, không được phát sanh kiến giải, dị kiến gì khác [so với Kinh văn], như vậy thì mới được. Rồi một khi đã nắm rõ, tin cậy, không hoài nghi tông chỉ tông yếu của Pháp môn mình theo rồi thì có thể học tập, mở mang theo những Kinh văn của các Pháp môn khác để làm trợ duyên, trợ hạnh cho việc tu tập thực hành của mình, nhằm nâng cao phẩm hạnh, công đức, giới luật, đạo tâm đạo lực, tự lợi lợi tha... nhưng tất cả đó vẫn chỉ dừng lại ở mức độ là trợ duyên trợ hạnh, tuyệt không được đưa những cái đó lên thành Tông chỉ tông yếu được, tức yếu tố quyết định thành bại. Đây là chuyện rất rất nhiều người hay mắc phải trong giới tu học hiện nay, nhất là dạng tu lâu năm, thế mới nghịch lý, mới đau. Bởi thế cho nên các Ngài mới nói trong thời buổi hiện nay, với căn tánh cùng hoàn cảnh nhân duyên của chúng sanh, thì nói chung cần Chánh - Trợ song tu, nhưng cái quan trọng đó là cần phân biệt rõ giữa Chánh và Trợ, không được nhập nhằng, mà cụ thể ở đây đó là sự nhập nhằng về Tín tâm [và cả hành trì] giữa Chánh và Trợ, rằng cái nào mới là chánh yếu, mới là yếu tố quyết định thành tựu, cái nào chỉ là phụ trợ, không phải yếu tố quyết định. Cụ thể hơn ở đây đó là gì? Đó là lời Kinh Phật thuyết [trong Kinh] nào mới là Tông yếu, quyết định, mà đặt trọn niềm tin vào, bất sanh nghi hoặc, không sai lệch hay thêm bớt gì hết, còn lời Kinh nào [trong Pháp môn khác] thì chỉ là trợ duyên trợ hạnh thôi, không phải Tông yếu [của Pháp môn mình theo], nên chỉ là thứ yếu không phải yếu tố quyết định vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 24. Tam Bối Vãng Sanh (trích)
Ngài Hoàng Niệm Tổ
