Nếu Làm Được Như Thế Thì Mới Đáng Gọi Là Đệ Tử Thật Sự Của Đức Phật

 

 

NPSTD7

Nếu Làm Được Như Thế Thì Mới Đáng Gọi Là Đệ Tử Thật Sự Của Đức Phật

Đừng nhất thời cao hứng liền phát tâm...

Con người sống trong thế gian sau mấy chục năm đã thành người cổ lỗ. Trong mấy chục năm ấy, nếu chẳng nỗ lực tu trì thì nỗi nguy hiểm trong tương lai sẽ chẳng thể nào thí dụ được! Đã phát tâm quy y Tam Bảo, thọ trì Ngũ Giới, quả thật là do thiện căn nhiều kiếp tạo thành; nhưng cần phải giữ vững cái tâm ấy, chỉ mong ngày càng thâm nhập, càng tu càng thiết tha. Muôn phần đừng nhất thời cao hứng liền phát tâm rồi lâu ngày chầy tháng sẽ vứt ra sau ót, chẳng đoái hoài tới nữa! Ông tên là Niệm Kiều, Kiều (橋: cầu) là vật cần thiết để giúp người khác vượt qua [sông, rạch]. Nếu không có cầu thì đôi bên qua lại khá bất tiện! Pháp môn Tịnh Độ chính là chiếc cầu pháp lớn lao để từ bờ sanh tử này vượt sang bờ Niết Bàn kia. Ông có thể tự hành, dạy người, ta lẫn người đều vượt qua được. Vì thế, tôi đặt pháp danh cho ông là Huệ Độ. Bởi lẽ, nếu có trí huệ thì sẽ do bờ này vượt lên bờ kia. Nếu không có trí huệ, sẽ vĩnh viễn ở trong biển khổ sanh tử, chẳng thể thoát được!

 

Đã quy y, thọ giới, hãy nên nghiêm trì, đừng phạm. Nếu không, sẽ thành trò trẻ con đùa bỡn với Phật pháp, tội lỗi cùng cực! Tâm phải chú trọng cung kính, giữ lòng thành, đánh đổ những ham muốn xằng bậy của chính mình để khôi phục lễ nghĩa; xử sự ắt phải hiếu thuận, từ bi, nhường nhịn, cung kính, chân thật, không giả dối. Lại cần phải đem lợi ích của Tịnh Độ để trên là khuyên nhủ cha mẹ, dưới là khuyên bảo vợ con, giữa là khuyên lơn anh em, bạn bè, xóm giềng, làng nước. Dù ta hay người đều phải giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính mình, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sinh vật, quý tiếc sanh mạng loài vật, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Nếu làm được như thế thì mới đáng gọi là đệ tử thật sự của đức Phật. Nếu không, sẽ là hữu danh vô thực, chỉ được cái danh xuông, trọn chẳng có mảy may lợi ích thật sự nào!

 

Như khi quy y, hãy nên đối trước đức Phật, chí thành lễ bái bao nhiêu đó lạy, đối trước đức Phật tự thưa bày: “Đệ tử con là Huệ Độ, vâng lời thầy con là Ấn Quang dạy con đối trước đức Phật tự thệ thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Đệ tử con tên là Huệ Độ, quy y (Phật, Pháp, Tăng), từ nay trở đi lấy (Phật, Pháp, Tăng) làm thầy, trọn chẳng quy y (ngoại đạo, thiên ma, kinh sách của ngoại đạo, tà chúng ngoại đạo)”. Lần thứ hai, lần thứ ba đều chiếu theo đây, chỉ sửa chữ [cho thích đáng] để nói. Nói xong mỗi điều, lễ Phật ba lạy.
Tiếp đó, lại lễ Phật ba lạy. Thọ Ngũ Giới thì nói: “Đệ tử con tên là Huệ Độ, thề nhận lãnh Ngũ Giới. Thứ nhất là chẳng sát sanh. Giống như đức Phật trọn hết tuổi thọ chẳng sát sanh, đệ tử con tên là Huệ Độ cũng trọn hết tuổi thọ chẳng sát sanh”. Điều thứ hai là chẳng trộm cắp. Điều thứ ba là chẳng tà dâm. Điều thứ tư là chẳng nói dối. Điều thứ năm là chẳng uống rượu đều nói giống như thế. Chỉ có điều thứ ba chẳng tà dâm thì nói: “Như chư Phật trọn hết tuổi thọ chẳng dâm dục, đệ tử con cũng trọn hết tuổi thọ chẳng tà dâm”. Do người tại gia có tình vợ chồng mong sanh con cái, chẳng thể đoạn dục nên chỉ ngăn cấm sắc bên ngoài; nhưng nếu đối với thê thiếp của chính mình mà tham vui hoặc làm chuyện chẳng hợp đạo, cũng sẽ giống như tà dâm. Chớ nên không biết [điều này]! [Những điều này đã được] giải thích tường tận trong Văn Sao, hãy đọc kỹ sẽ tự biết rõ, ở đây không viết cặn kẽ!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 65NX55

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà bằng đá thạch anh trắng.

Đoạn đầu: Con người sống trong thế gian sau mấy chục năm đã thành người cổ lỗ. Trong mấy chục năm ấy, nếu chẳng nỗ lực tu trì thì nỗi nguy hiểm trong tương lai sẽ chẳng thể nào thí dụ được! Đã phát tâm quy y Tam Bảo, thọ trì Ngũ Giới, quả thật là do thiện căn nhiều kiếp tạo thành; nhưng cần phải giữ vững cái tâm ấy, chỉ mong ngày càng thâm nhập, càng tu càng thiết tha. Muôn phần đừng nhất thời cao hứng liền phát tâm rồi lâu ngày chầy tháng sẽ vứt ra sau ót, chẳng đoái hoài tới nữa!

Đời người trôi qua như cái chớp mắt vậy, mới còn con nít trẻ thơ ngày nào mà giờ đã như vầy, rối cũng sẽ rất nhanh thôi đến ngày gọi là thất thập cổ lai hi, rồi sẽ đến cái ngày gọi là 'trăm tuổi già', đó là tất cả những gì dành cho tất cả chúng ta, thậm chí nhiều người còn đi nhanh hơn nhiều. Cho nên làm được gì tranh thủ làm đi, tu được gì tranh thủ tu đi, đừng chần chờ, đừng có đợi, đừng có gọi là 'đợi chờ là hạnh phúc', dạ không có đâu. Sống trong thế gian Ngũ trược này cứ hớ ra cái là nó 'trược' ngay và luôn, chứ chẳng chơi đâu, cho nên hãy tranh thủ, tranh thủ [tu] còn hơn cả 'cao thủ' [tu] đấy, cứ khiêm hạ chấp nhận tự nhủ thân phận [kém hèn] đây mà tu trì, gầy dựng Tín Nguyện tâm, niệm Phật cầu về Cực Lạc. Về được đó rồi thì thứ gì chả có, thân kim cang bất hoại, ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, tâm thì luôn vui vẻ hoan hỉ như Tỳ kheo lậu tận, rồi muốn gì có nấy, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, muốn cúng dường mười phương Chư Phật thì được đi cúng dường, muốn đi độ sanh thì đi độ sanh..., rất tự tại, thong dong, rất thù thắng hạnh.

"Nhưng cần phải giữ vững cái tâm ấy, chỉ mong ngày càng thâm nhập, càng tu càng thiết tha. Muôn phần đừng nhất thời cao hứng liền phát tâm rồi lâu ngày chầy tháng sẽ vứt ra sau ót, chẳng đoái hoài tới nữa!": Làm sao để luôn giữ nhiệt giữ lửa cho cái tâm tu đạo ngày càng thiết tha, tinh tấn đây? Rất đơn giản thôi, áp dụng cái đạo lý 'muôn thuở' rằng: "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng". Tức là cứ gần cái gì nhiều là thường nhiễm theo cái đó, phàm phu chúng ta là vậy. Cho nên để giữ tâm đạo luôn nhiệt thành, tinh tấn tu tập cầu về Cực Lạc thì cứ thân cận với các Kinh sách Tịnh Độ, Chư Tổ Sư, rồi các bậc Cao Tăng, Đại Đức, các vị Thiện tri thức, các Đạo tràng, ngôi già lam, các quý đồng tu... chuyên tu Tịnh Độ. Đó chính là cách 'giữ lửa' đơn giản nhất mà cũng hiệu quả nhất vậy. Cùng với đó là chính bản thân cũng phải nổ lực tu trì, thức khuy dậy sớm, đều đặng công phu, hành trì, học tập. Thời đại ngày nay là phải vậy, chẳng thể tách rời được đại chúng đồng tu, hay dạng tu kiểu 'ẩn sĩ' gì đó, dạ không còn phù hợp nữa rồi, nói cách khác là thời đó đã qua rồi, bây giờ chẳng còn 'khế cơ' như thế nữa. Mà thời nay là phải như thế nào? Chánh - Trợ song tu, và 'Chúng - Gia' song tu [tức vừa nhập chúng tu vừa tự tu tại gia] vậy. 

Tiếp theo: Pháp môn Tịnh Độ chính là chiếc cầu pháp lớn lao để từ bờ sanh tử này vượt sang bờ Niết Bàn kia. Ông có thể tự hành, dạy người, ta lẫn người đều vượt qua được. Vì thế, tôi đặt pháp danh cho ông là Huệ Độ. Bởi lẽ, nếu có trí huệ thì sẽ do bờ này vượt lên bờ kia. Nếu không có trí huệ, sẽ vĩnh viễn ở trong biển khổ sanh tử, chẳng thể thoát được!

Chỗ "nếu có trí huệ thì sẽ do bờ này vượt lên bờ kia", "trí huệ" ở đây nghĩa là gì? "Nhìn thấu là trí huệ chân thật"? Dạ cũng đúng vậy, nhưng chưa đủ, bởi đó chỉ là "trí huệ chân thật" của các Pháp thế gian mà thôi, tức là của các Pháp trợ duyên trợ lực. Còn với hành giả Tịnh Độ chuyên tâm tu trì cầu sanh về Cực Lạc thì "trí huệ" ở đây đó chính là giải trừ được những mối nghi [đối với Kinh văn Tịnh Độ], mà chân thật hành trì cầu sanh về. Hay nói cách khác "trí huệ chân thật" ở đây đó chính là "thọ trì" được [theo Kinh văn Tịnh Độ], như thế thì sẽ từ "bờ này vượt lên bờ kia", chắc chắn không sai chạy với ai cả. Mà để có được cái "trí huệ" [chân thật] đó thì phải làm sao? Một là dạng chẳng biết gì, nói chính xác là chỉ biết 'dừa đủ sài', tức một vài điểm Tông yếu của Pháp môn, chỉ cần vậy, như thế sẽ dễ có được Tín tâm chân thật và duy trì bền lâu [chẳng hạng như ngu phu ngu phụ, hay các cụ già, bậc cao niên]. Còn với dạng hãy còn trẻ khỏe, còn phải gánh vác bổn phận, trách nhiệm này kia thì để có "trí huệ chân thật" đó không có cách nào khác là phải chân thật, nghiêm túc học tập, thực hành theo lời Kinh, lời Tổ chỉ dạy, chứ chẳng thể học 'giả đui giả điếc' kiểu không cần biết gì được đâu nhé. Vì sao vậy? Đơn giản là vì dạng này hãy còn phải thực hành cả Pháp thế gian lẫn xuất thế, chưa thể buông bỏ được, bởi chưa thể tròn bổn phận, cho nên cần phải vận dụng từng lời Kinh lời Tổ vào cuộc sống thực tiễn hàng ngày đây, vừa lo tu trì cầu giải thoát, tức là cả Pháp thế gian lẫn xuất thế phải cùng song hành, đồng nhịp, 'ăn khớp' với nhau. Cho nên cần phải học tập, thực hành, tu trì tốt cho cả hai.

Đoạn tiếp: Đã quy y, thọ giới, hãy nên nghiêm trì, đừng phạm. Nếu không, sẽ thành trò trẻ con đùa bỡn với Phật pháp, tội lỗi cùng cực! Tâm phải chú trọng cung kính, giữ lòng thành, đánh đổ những ham muốn xằng bậy của chính mình để khôi phục lễ nghĩa; xử sự ắt phải hiếu thuận, từ bi, nhường nhịn, cung kính, chân thật, không giả dối.

Chỗ "Tâm phải chú trọng cung kính, giữ lòng thành" đó tức là phải "cạn lòng thành, tận lòng kính" [với tất cả, đủ duyên], nói chung tránh sự giả dối, hay kiểu nửa vời, nhưng cũng cần phải tùy duyên, chứ không nên phan duyên, tức không có kiểu 'bao đồng', hay chạy theo những Phật sự, công đức đại chúng này kia mà sao nhãng việc tu trì của bản thân được. Nói chung là phải tu trì chân thật, tự hành khuyên người, tự lợi lợi tha, tức phải lấy "thân" làm gốc trước cái đã.

ánh đổ những ham muốn xằng bậy của chính mình để khôi phục lễ nghĩa" đó chính là "giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận", "cách vật trí tri", tức học tập, gìn giữ những tánh đức, nhân phẩm, đạo lý con người, tu Tịnh nghiệp tam phước, nghiêm trì giới luật, ra sức tu sửa bản thân, tránh thân cận những vật chất cám dỗ, ngũ dục...

Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập thêm. Bây giờ chúng ta dành chút thời gian để tiếp tục nói về việc gầy dựng Tín Nguyện tâm trong tu học. Chúng ta biết rằng, trong Di Đà Bổn Nguyện có hai chỗ tối quan trọng và cũng khá khó hiểu, đó là chỗ "nãi chí thập niệm" và chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác". Chỗ "nãi chí thập niệm", tức "cho đến [hạng bét là] mười niệm", nếu dịch sát nghĩa là như vậy, như thế có nghĩa là như thế nào? Có nghĩa là chúng sanh vừa phải gầy dựng Tín Nguyện tâm chân thật đầy đủ ["chí tâm tin ưa", "nguyện sanh ngã quốc"], vừa phải "niệm" [A Di Đà Phật], theo cái tâm lực đó, đến như hạng Bét kia cũng phải niệm được ít nhất mười niệm ["nãi chí thập niệm"], thì các dạng thông thường khác cũng phải niệm suốt đời [chứ không phải "thập niệm" như hạng bét], chúng ta nên nhớ là ở đây Phật nói rất rõ là "nãi chí thập niệm" chứ không phải nói là "thập niệm", cần lưu ý kỹ cái chỗ này, để tránh hiểu lầm rồi đâm ra hoài nghi cái Pháp. Rồi giữ gìn và hành trì như thế trọn đời thì lâm chung chắc chắn được vãng sanh, bởi tiếp sau là Phật thệ nguyện rằng "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác" [nếu chẳng được vãng sanh thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác], chính cái chỗ này là chỗ cần phải phát khởi lòng tin chân thật, chẳng nghi vậy [tức Tín tâm chân thật đầy đủ là ngay tại chỗ này]. Nói tóm lại rằng, chúng sanh phải có Tín Nguyện tâm chân thật đầy đủ, và phải niệm Phật [không yêu cầu cụ thể ra sao, chỉ theo tâm lực mà hành trì], giữ gìn, hành trì như thế trọn đời không đổi, thì lâm chung chắc chắn Phật lai nghinh tiếp dẫn, không sót một ai. Chúng ta phải hiểu rõ ràng như vậy chứ không lại bảo sao 'tự nhiên' mà có được ngay chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác" [để tin]!

Bây giờ, sau khi đã rõ ràng nghĩa lý của Bổn Nguyện rồi, thì việc gầy dựng Tín tâm đó như thế nào đây? Rất đơn giản thôi, cứ chỗ nào cần tin thì cứ 'y Kinh Phật thuyết' mà tin thôi, không cần nghĩ suy gì cả. Rằng cứ Phật tuyên Phật thuyết sao thì cứ tin y như vậy [với lý do đó chính là y theo lời Phật thuyết trong Kinh, cho nên không sai chạy đâu được], còn chỗ nào cần tin như vậy thì như bên trên đã nói, đó chính là chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác", đấy chính là chỗ 'y Kinh Phật thuyết' để có Tín tâm. Còn như ai dám phản bác lại, hay suy diễn sai lệch [về nghĩa lý] này kia ra, đó chính là họ đang phản bác lại lời Kinh Phật thuyết vậy, chính xác là như vậy, hoặc giả là họ đã không tin lời Phật thuyết [Bổn Nguyện], như thế thì làm sao gọi là Y giáo phụng hành cho được, cho dù tu giỏi cở nào đi nữa. Rồi để tin chắc rằng cái Bổn Nguyện này chân thật, không hư dối, thì chúng ta đã có một cái Lý chân thật để 'chống đỡ', đó là "Phật đã thành Phật", cho nên Bổn Nguyện [và chỗ đoạn kia] đã thành tựu, cho nên là luôn chân thật, không thể hư dối. Chúng ta cứ nương vào cái Lý này để gìn giữ Tín tâm chân thật chẳng nghi, trọn đời không đổi.

 

Văn Sao Tam Biên, quyển 3

Thư trả lời cư sĩ Vinh Bách Vân
Đại Sư Ấn Quang

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.