Nếu chẳng hiểu duyên do của pháp môn Tịnh Độ thì...
Người niệm Phật trước hết phải hiểu duyên do của pháp môn Tịnh Độ rồi mới đọc khắp các kinh luận thì [sẽ thấy rõ các kinh luận] đều nhằm nêu tỏ ý nghĩa Tịnh Độ, cũng như sẽ thiết tha tu hạnh Tịnh Độ. Nếu chẳng hiểu duyên do của pháp môn Tịnh Độ thì hễ nghiên cứu kinh giáo đến tột cùng sẽ nghĩ nghĩa lý của kinh giáo ấy là cao sâu, coi nghĩa lý Tịnh Độ là thiển cận, đến nỗi đảo ngược vị trí của Chánh Hạnh và Trợ Hạnh, hoặc vứt Tịnh Độ ra sau ót, chỉ gieo được ích lợi sẽ đắc độ trong đời vị lai, quyết khó thể liễu sanh thoát tử, góp mặt cùng các vị thượng thiện nhân ngay trong đời này!
Niệm Phật nếu chẳng hôn trầm sẽ tán loạn, đấy chính là hiện tượng chứng tỏ cái tâm [niệm Phật] hời hợt, hờ hững cho xong việc! Nếu niệm Phật với cái tâm như bị té vào lửa nước, như đang gặp phải giặc cướp mong gấp được cứu giúp thì sẽ tự chẳng có căn bệnh ấy. Hãy nên sắp xếp thời gian, lúc nào sẽ nghiên cứu, lúc nào sẽ trì tụng. Khi nghiên cứu thì chẳng được vượt quá thời gian hạn định; vì nếu không, sẽ cảm thấy nghiên cứu thú vị, sẽ trở thành nghiên cứu suốt ngày, chẳng những gây trở ngại cho niệm Phật, mà còn sợ rằng do dụng tâm quá độ sẽ bị thương tổn. Đấy gọi là: “Ngược ngạo ghét dễ dàng, đơn giản, tìm cầu khó khăn, khéo quá hóa vụng”, thật đáng xót thương!
Thường nên đem những điều này để răn nhắc con cái
Trong hiện thời, lòng người bại hoại đến cùng cực, đi lại bên ngoài dẫu không mắc họa cũng rất nguy hiểm. Nếu ông biết được ý này thì tâm niệm Phật sẽ tự thiết tha, tâm nghiên cứu giáo nghĩa sẽ tự nhạt bớt! Vì sao vậy? Vì trong khi hoạn nạn, chẳng thể nào gởi lòng nơi phương diện tri kiến, hiểu nghĩa được! Lại còn thường nên đem những điều này để răn nhắc con cái, con dâu, khiến cho bọn họ ai nấy đều niệm Phật và niệm Quán Âm mỗi ngày. Nếu cả nhà đều sanh lòng kiêng sợ, chí thành niệm Phật và niệm danh hiệu Quán Âm sẽ chẳng đến nỗi mắc họa. Nếu không, muốn vĩnh viễn không gặp tai họa quả thật rất khó thể đạt được!
Chuyện dạy dỗ con cái có quan hệ rất lớn. Dạy con gái lại càng khẩn yếu hơn dạy dỗ con trai. Bởi lẽ, nếu con gái hiền thì khi còn ở nhà sẽ khiến cho anh em trai, chị em gái đều nhìn theo bắt chước làm lành; khi xuất giá sẽ giúp chồng dạy con đúng phép tắc, khiến cho chồng lẫn con đều thành hiền thiện. Nếu con gái chẳng được dạy dỗ sẽ gây họa chẳng thể nói trọn hết đâu nhé!

Ảnh: Bộ tượng Tây Phương Tam Thánh dát vàng.
Đoạn đầu: Người niệm Phật trước hết phải hiểu duyên do của pháp môn Tịnh Độ rồi mới đọc khắp các kinh luận thì [sẽ thấy rõ các kinh luận] đều nhằm nêu tỏ ý nghĩa Tịnh Độ, cũng như sẽ thiết tha tu hạnh Tịnh Độ. Nếu chẳng hiểu duyên do của pháp môn Tịnh Độ thì hễ nghiên cứu kinh giáo đến tột cùng sẽ nghĩ nghĩa lý của kinh giáo ấy là cao sâu, coi nghĩa lý Tịnh Độ là thiển cận...
Thế nào là duyên do của Pháp môn Tịnh Độ? Đó chính là nắm được Tông yếu của Pháp môn vậy. Nhiều người cho rằng Pháp môn Tịnh Độ thì Tông yếu đó chính là Niệm Phật, cứ chuyên hành Niệm Phật là được. Nhưng trong chữ "chuyên" đó cũng lắm nghĩa lý, rằng "chuyên" tới đâu? Chỉ duy nhất một câu Phật hiệu mà niệm hay sao? Hay là Chánh - Trợ song tu? Cho nên đa phần hành giả Tịnh Độ không thật sự nắm rõ nghĩa lý Tông yếu của Pháp môn này là như thế nào, hoặc giả nói một đằng làm một ngã. Chẳng hạn cứ nói rằng chuyên niệm một câu Phật hiệu thôi, nhưng dạng tu đường dài là cả đời lận, chứ không ít, vậy nhở bạn đồng tu hay Đạo tràng rủ đi phóng sanh hay làm Phật sự gì đó rồi có đi không, hay cứ suốt ngày niệm Phật thôi không dám động tới bất cứ thứ gì khác, không dám niệm bất cứ danh hiệu nào khác, vì sợ động vào thành ra 'tạp'! Cho nên, lý thuyết là một chuyện, rằng miệng nói là một chuyện, nhưng ra ngoài 'thực chiến', trãi trường vài năm, mười mấy năm, mấy chục năm đi, xem giữa lý thuyết [ban đầu] với thực tế [hiện tại] có còn giống nhau nhiều không? Nhất là trong thời buổi hiện nay, thời đất chật người đông, vùng thôn quê yên tĩnh hay non sơn tĩnh mịch gần như biến mất không còn như trước nữa, rồi thời nay mà bảo đừng động vào truyền thông, internet, mạng xã hội, hay thông tin đại chúng v.v... liệu có khả thi, có thực tế? Nhất là với giới trẻ, trung niên, tuổi còn đang phải gánh vác trách nhiệm, bổn phận với gia đình, với xã hội? Cho nên Pháp tuy hay nhưng phải khế Lý khế Cơ thì mới là diệu Pháp được, tức là giúp chúng sanh thực hiện được, trong thời cuộc đó, như thế mới là Pháp cứu cánh, viên mãn. Chứ còn Pháp dẫu nghe thì hay thật đấy nhưng chỉ trên giấy hay trên lý thuyết, không áp dụng được vào thực tế, thì cũng chẳng phải là Pháp hay [cho giai đoạn ấy].
Trở lại vấn đề, vậy Tông yếu của Pháp môn này là gì? Điều này thì chúng ta đã quá quen thuộc rồi, đó chính là Tín Nguyện [đầy đủ], niệm Phật. Chứ chẳng phải chỉ có nói là Niệm Phật không thôi đâu nhé. Hai cái này chỉ trùng hợp nhau, là một, khi nào? Đó là khi thuần nhất tinh chuyên một câu Phật hiệu, như đã bàn bên trên. Vì sao vậy? Vì khi đó sẽ là như các Ngài nói, "dùng Hạnh lập Tín", tức là hành trì được như vậy thì sau một thời gian hành giả 'tự nhiên' sẽ có dần Tín tâm chân thật chẳng nghi ngờ [việc vãng sanh của mình], nhanh thì một vài năm, lâu thì vài chục năm, cả đời, nói chung tùy căn cơ, năng lực hành trì. Khi đó thì đúng là Pháp môn này chỉ cần Niệm Phật là đủ, chẳng cần thứ gì khác nữa, nhưng với một điều kiện duy nhất, đó là chỉ chăm chăm niệm Phật [cầu vãng sanh], ngoài ra không được 'động' vào bất cứ hạnh nào khác, cũng chẳng có Chánh có Trợ gì cả, bởi chỉ có duy nhất một câu Phật hiệu mà niệm, theo đúng nghĩa đen, cũng chẳng làm công đức, Phật sự, trì kinh giữ giới, tu tâm dưỡng tánh, hay bất cứ thứ gì khác... như thế mới đúng nghĩa là thuần nhất tinh chuyên một câu Phật hiệu, cứ thế mà hành trì cho đến khi mãn phần, hết thọ mạng luôn, cũng không cần biết nghĩa lý Kinh văn là gì cả, cũng chẳng cần biết lâm chung phải thế này hay thế khác, hoàn toàn không cần biết nghĩa lý gì cả [đặc biệt nghĩa lý theo Pháp Biên Địa, cần tránh xa], như thế mới được, cứ hành trì như thế cả một đời không đổi thì cuối đời cũng chắc chắn vãng sanh. Chứ còn một mặt thời khóa thường nhật thì đúng là chỉ một câu Phật hiệu mà niệm đấy, nhưng mặt khác ngoài thời khóa ra lại hăng say làm Phật sự này kia, rồi phải tu Tịnh Nghiệp Tam Phước, Lục Độ Vạn Hạnh, rồi tu tâm dưỡng tánh, điều phục phiền não tham sân si, hay đi Hộ Niệm, bố thí Pháp cho người v.v..., như thế mà gọi là "tinh chuyên" được chăng? Thật ra đó là gì? Chính là Chánh - Trợ song tu, chẳng phải gọi "tinh chuyên" được đâu! Rằng "tinh chuyên" là phải mọi lúc mọi nơi mọi thời, chứ chẳng phải chỉ tính trong thời khóa là tinh chuyên, còn ngoài thời khóa thì 'không tính', cho nên ngôn - hạnh phải tương ưng, không được nói một đằng làm một nẻo. Còn như làm không được thì thôi, cứ Chánh - Trợ song tu mà hành, cho hợp với thời cuộc, với căn cơ, với hoàn cảnh nhân duyên [rằng đường Đạo hãy còn dài, hay tuổi còn trẻ còn khỏe hãy còn Bố Mẹ già yếu, còn vợ dại con thơ, còn phải 'cày bừa' vì cơm áo v.v...]. Bởi vậy chúng ta thấy các Ngài khuyên chúng sanh tu như thế nào [trong thời cuộc như hiện nay và về sau]? Rằng người tu Tịnh Độ phải "Giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, dứt lòng tà, giữ lòng thành, rồi kiêng giết, ăn chay, phóng sanh, rồi [ra sức gầy dựng] Tín Nguyện, [tinh tấn] niệm Phật cầu sanh Tây Phương". Đó chính là Chánh - Trợ song tu vậy, hay cũng còn gọi là "Phát tâm vô thượng Bồ Đề, nhất hướng chuyên niệm", tức Tín Nguyện, niệm Phật [làm Chánh], kèm "tu chư công đức" [làm Trợ hạnh]. Chúng ta thấy trong Kinh Vô Lượng Thọ Phật thuyết có giống như vậy không? Có 'khế lý khế cơ' với thời cuộc và căn tánh chúng sanh ngày nay [và mai sau] hay không? Cho nên tu học đừng có 'lý huyền lý diệu' làm gì, bởi thời cuộc và căn tánh chúng sanh làm có nổi đâu, rồi thành ra ngôn - hạnh bất nhất, nói một đằng làm một nẻo, rồi sau rốt thì cậy vào Pháp Biên Địa [tức cả đời tu tập thất bại hay là hư giả, không chân thật, sau cùng đành cậy vào Pháp cứu vớt]. Cho nên thôi cứ hành sao nói vậy đi, nó thực tế, chân thật, không hư giả, miễn là phải nắm vững Tông yếu của Pháp môn và thực hiện cho được cái Tông yếu này [Tín tâm chân thật chẳng nghi], cùng đó là Chánh - Trợ phải rạch ròi, phân minh là được.
Chỗ "Nếu chẳng hiểu duyên do của pháp môn Tịnh Độ thì hễ nghiên cứu kinh giáo đến tột cùng sẽ nghĩ nghĩa lý của kinh giáo ấy là cao sâu, coi nghĩa lý Tịnh Độ là thiển cận", đây là 'căn bệnh' chung của đa phần phàm phu chúng ta. Vì sao như vậy? Bởi vì phần nhiều phàm phu như chúng ta thì khởi Tín tâm đối với các Pháp môn khác [tự lực] sẽ dễ dàng hơn nhiều so với Tín tâm đối với Tịnh Độ. Cho nên đã là cái dễ mà lại học tập, gầy dựng và khởi phát lên trước thì sẽ 'chiếm hữu' tâm trí chúng ta rất dễ dàng và sâu đậm, đến khi chuyển qua tu trì Tịnh Độ hay về sau mới bắt đầu học tập giáo lý, đường lối, tông chỉ của Tịnh Độ thì ít nhiều sẽ bị chi phối bởi các tư tưởng của các Pháp [tự lực] này, rất khó làm cho phai mờ hay chuyển đổi rốt ráo qua tư tưởng của Pháp cậy vào Tha lực này được ngay, bởi vậy cần phải nhiều thời gian và công sức để gầy dựng lại Tín tâm của Pháp môn này là như vậy. Bởi vậy nếu không nghiêm túc học tập, gầy dựng và kiên trì thì sẽ thành ra tu Tịnh Độ nhưng lại cậy vào Tha lực kiểu 'nửa vời' [của Pháp Biên Địa], tức cho rằng 'lâm chung chánh niệm niệm Phật Phật mới lai nghinh', tức không thể có Tín tâm chân thật đầy đủ cho được. Hàng phàm phu chúng ta thường như vậy, cho nên rằng cũng tùy nhân duyên sắp đặt thôi, cái nào duyên tới trước thì tu tập trước, sau đó thì dần dần sửa đổi, học tập gầy dựng chuyên sâu lên vậy, chứ đa phần chúng ta khi mới bắt đầu thâm nhập đạo, phát tâm tu hành thì hầu như đều như vậy cả, tức ban đầu cũng đi chùa, nghe pháp cũng dạng như kiếm chút phước chút duyên gì đó thôi, rồi từ từ mới bén duyên đi chuyên sâu vào Tịnh Độ, cho nên đành tùy duyên mà 'ứng biến' vậy thôi. Quan trọng là gì? Đó là thấy cái gì đúng lý đúng pháp, đúng theo Kinh giáo chỉ dạy là phải 'thích ứng' ngay, tức phải dám từ bỏ những quan niệm, tư tưởng sai lệch, không đúng trước đó mà học tập theo cái mới, chân thật, đúng nghĩa lý Kinh giáo hơn, không được cứ cố chấp mãi vào những cái sai lệch, chẳng chịu học tập sửa đổi lại, như thế đó là rơi vào dạng 'ngã chấp' [kiêu] rồi, chẵng chịu phát tâm khiêm hạ mà học tập. Bởi vậy đây chính là một trong những đức tính cần thiết bậc nhất trong tu học vậy, không thể thiếu, rằng người khiêm nhường [hết mực], nếu bắt gặp đủ nhân duyên, thì không ai là không học tập được, để có được Tín tâm chân thật chẳng nghi vậy.
Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Thư trả lời cư sĩ X…
Đại Sư Ấn Quang
