Chánh kinh:
Nhân duyên nguyện lực, xuất sanh thiện căn, tồi phục nhất thiết ma quân, tôn trọng phụng sự chư Phật. Vi thế minh đăng, tối thắng phước điền, thù thắng cát tường, kham thọ cúng dường. Hách dịch hoan hỷ, hùng mãnh vô úy . Thân sắc tướng hảo, công đức biện tài, cụ túc trang nghiêm, vô dữ đẳng giả.
Nhân duyên nguyện lực xuất sanh thiện căn, dẹp tan hết thảy ma quân, tôn trọng, thừa sự chư Phật. Làm đèn sáng soi thế gian, [làm] phước điền tối thắng, cát tường thù thắng, đáng được cúng dường. Rạng rỡ, hoan hỷ, hùng mãnh, vô úy. Thân sắc, tướng hảo, công đức biện tài đầy đủ không ai bằng nổi.
Giải:
Ðoạn kinh này giảng rộng về công đức chân thật của Bồ Tát.
Chữ “nhân duyên” được bản Ngụy dịch ghi là “nhân lực, duyên lực”.
Ngài Tịnh Ảnh giảng: “Nhân lực, duyên lực là môn thứ nhất để dựa vào đó mà khởi tu. Hết thảy hạnh lành đã tu trong quá khứ sanh ra điều lành trong hiện tại thì gọi là ‘nhân lực’. Gần thiện tri thức, lắng nghe chánh pháp là duyên lực”.
Ngài Vọng Tây bảo: “Căn lành từ những đời trước gọi là nhân lực. Thân cận thiện tri thức là duyên lực. Do nhân duyên hòa hợp nên có thể khởi hạnh”.
Hai thuyết trên tương đồng, nhưng sách Hội Sớ lại giảng hơi khác. Sách viết: “Nhân lực là Bồ Ðề tâm, đây chính là cái nhân gốc của Phật đạo, xuyên suốt thập phương tam thế khiến cho chúng ma kinh hãi lớn lao. Duyên lực là rộng cầu tri thức, những điều lành của đại chúng. Duyên này có đại oai lực chuyển phàm nhập thánh”.
Xét về văn tự, thuyết này khác với hai thuyết trên, nhưng thật chẳng mâu thuẫn nhau! Ngài Tịnh Ảnh lấy điều lành từ quá khứ làm cái nhân cho hiện tại; sách Hội Sớ coi cái tâm Bồ Ðề hiện tại là cái nhân để thành Phật. Thật ra, nếu chẳng có hạnh lành trong nhiều kiếp quá khứ thì chẳng thể phát khởi nổi cái tâm Bồ Ðề trong hiện tại. Nếu chẳng thể phát khởi nổi tâm Bồ Ðề thì không có cái nhân thành Phật!
Như vậy, hai thuyết trên chỉ bổ sung lẫn nhau; nhưng trong hai thuyết trên, thuyết của sách Hội Sớ gần với ý chỉ kinh này hơn vì phát Bồ Ðề tâm, một bề chuyên niệm chính là tông chỉ của kinh này.
Tịnh Ảnh Sớ giảng “nguyện lực” như sau: “Nguyện để khởi hạnh thì gọi là nguyện lực”. Ngài Vọng Tây bảo: “Cầu Bồ Ðề Tâm là nguyện lực”. Sách Hội Sớ lại bảo: “Nguyện lực là Tứ Hoằng Thệ Nguyện để nghiêm tịnh cõi nước Phật, thành tựu chúng sanh”.
Tổng hợp cả ba thuyết trên thì dùng Tứ Hoằng Thệ Nguyện để trang nghiêm cõi nước, thành tựu chúng sanh, mong cầu tâm Bồ Ðề mình sẵn có, tất cả đều là từ nguyện khởi hạnh nên gọi là nguyện lực. Có nguyện mà không hạnh thì chỉ là nguyện suông nên chẳng có công lực.
Nhân duyên hòa hợp như vậy, lại đầy đủ nguyện lực nên tự nhiên “xuất sanh thiện căn”. Ngài La Thập giảng chữ “thiện căn” như sau:
“Tâm lành kiên cố sâu chẳng thể nhổ trốc được nên gọi là Căn”. Tỳ Bà Sa Luận cũng bảo: “Thiện căn là chẳng tham, chẳng sân, chẳng si. Hết thảy thiện pháp đều từ ba điều ấy mà sanh”. Vì vậy, điều lành sanh ra diệu quả, lại còn sanh ra các điều thiện khác nên gọi là “thiện căn”.
Sách Di Ðà Yếu Giải nói: “Bồ Ðề chánh đạo gọi là thiện căn, tức là cái nhân gần”. Bồ Ðề chánh đạo chính là phát Bồ Ðề tâm, một dạ chuyên niệm. Ðấy chính là cái nhân gần để thành tựu Bồ Ðề.
“Nhân” (因) có nghĩa là hạt giống, ý nói: Phát Bồ Ðề tâm, một bề chuyên niệm là hạt giống để thành tựu quả Bồ Ðề nên gọi là “thiện căn”. Kinh Ðại Bi cũng dạy: “Nhất xưng Phật danh, dĩ thị thiện căn, nhập Niết Bàn giới, bất khả tư nghị” (Một phen xưng danh hiệu Phật, dùng thiện căn ấy để nhập Niết Bàn giới chẳng thể cùng tận). Ta thấy rõ thiện căn chính là cái nhân gần. Từ nhân được quả, quả có đầy đủ chủng tử nên lại trở thành cái nhân thù thắng. Cứ xoay vần như thế nên thiện căn vô tận.
Do đó, Bồ Tát có đầy đủ những diệu đức như sẽ được nói sau đây:
- “Tồi phục nhất thiết ma quân” (Dẹp tan hết thảy ma quân): “Tồi phục” là phá trừ và hàng phục. Xin xem lại lời giải thích về chữ “Ma” ở phần trước. Trí Ðộ Luận lại bảo: “Ðoạt huệ mạng, phá hoại gốc lành đạo pháp công đức nên gọi là Ma”. Loại quỷ thần này có đại thần lực, có khả năng gây chướng nạn cho người tu pháp xuất thế. Quân lính của ma được gọi chung là ma quân.
- “Tôn trọng, phụng sự chư Phật”: Trong phẩm bốn mươi mốt của kinh này có nói kẻ vãng sanh về biên địa “ư liên hoa trung, bất đắc xuất hiện” (ở trong hoa sen chẳng được xuất hiện), “ư ngũ bách tuế trung, bất kiến Tam Bảo, bất đắc cúng dường phụng sự chư Phật” (trong năm trăm năm, chẳng thấy Tam Bảo, chẳng được cúng dường, phụng sự chư Phật). (...)

Ảnh minh họa: "Này Xá-lợi-phất, Phật A Di Ðà thành Phật đến nay đã mười kiếp. Lại này Xá-lợi-phất, Ðức Phật kia có vô lượng vô biên chúng đệ tử Thanh Văn đều là bậc đại A-la-hán, không thể tính đếm mà biết được; các chúng Bồ-tát cũng nhiều như thế."
[Kinh A Di Đà bằng tranh]
Chúng ta tiếp tục đến với phần tiếp theo trong Phẩm 31. Trong phân đoạn này Đức Phật tiếp tục nói về "công đức chân thật" của hàng Bồ Tát nơi cõi Cực Lạc. Rằng "Nhân duyên nguyện lực, xuất sanh thiện căn, tồi phục nhất thiết ma quân, tôn trọng phụng sự chư Phật", chúng ta thấy trong đây có "thiện căn", "nhân duyên", rồi "phước đức" nữa [trong "tồi phục nhất thiết ma quân, tôn trọng phụng sự chư Phật"]. Nói chung đối với các vị ấy thì ba thứ này đều gọi là 'tràn đầy' luôn chứ chẳng phải là nhiều hay đầy đủ gì cả. Thật sự đoạn Kinh văn này có văn tự câu chữ khá nhiều nên chúng ta có thể đọc phần chú giải của các Ngài thì mới hiểu rõ được hết. Rằng các vị ấy có đại oai lực như thế nên khi 'tái lai độ sanh' ở những nơi uế độ như Ta Bà đây thì mới 'kham nổi' với những thế lực hẫy hừng đang ở đó, chứ chẳng phải dễ. Còn phàm phu như chúng ta thì trước hết chỉ mong 'độ sanh' cho chính mình trước đã, tức phải giải thoát được cho mình trong đời, đó là nhiệm vụ quan trọng nhất, chính yếu nhất, rồi song song đó thì có thể gọi là 'chia sẻ', hay dìu dắt nhau cùng tu cùng về vậy thôi, đó tức là 'tự lợi [rồi tiện thì] lợi tha'. Chứ còn nếu xét đúng nghĩa chữ 'độ sanh' [với Pháp môn này] thì chỉ dành cho các vị trên ấy tái lai xuống mới làm nổi, còn dạng như chúng ta chỉ là 'đồng học, đồng tu' để mong 'đồng về' vậy thôi, bởi đơn giản là phàm phu chúng ta làm gì có đại oai đức đại nguyện lực như các vị ấy đâu mà gánh vác, mà "tồi phục nhất thiết ma quân". Thật sự rằng đến ngay các vị trên ấy xuống đây độ sanh thì cũng có nhiều cấp độ cấp bậc cao thấp khác nhau, và mức độ độ sanh cũng khác nhau nhiều, rồi với hạnh nguyện độ sanh nữa, cũng khác biệt, rối với hạnh nguyện ban đầu [trên đó] là một chuyện nhưng một khi xuống đây [hay nơi nào đó] lại là chuyện khác, chẳng dễ gì thành tựu viên mãn [như ý nguyện ban đầu] được đâu, bởi một khi đã 'lặn' vào cái biển sanh tử thì chẳng biết đâu mà lần được, cũng chẳng nói trước được gì, rằng phải 'tự lực cánh sinh' hết, để bắt đầu lại từ đầu như chúng sanh ở đó vậy, duy chỉ có khác biệt là các vị ấy có thần lực, oai đức vượt trội [như đoạn Kinh văn nói] và kiểu gì lúc cuối cũng được Phật đến rước về trở lại [nên các Ngài hay nói là trở về Cố Hương là vậy], rằng đa phần đó là do thành tựu từ cái Pháp rồi nương cái Pháp đó mà được trở về [y hệt như thành tựu của chúng sanh vậy], chứ dạng 'cực chẳng đã' thì Phật mới 'dang tay' cứu về [do không thành tựu cái Pháp], còn chúng sanh một khi không thành tựu cái Pháp [mà mình theo đuổi] thì đành phải ở lại luân hồi thôi, đó là sự khác biệt giữa các vị ấy và chúng sanh sở tại. Bởi vậy, Đức Phật Di Đà ngài phải ra sức bằng cái Nguyện lực của mình [cộng với sự tinh tấn của các vị ấy] để nhằm 'trang bị' cho các vị Bồ Tát trên ấy có một đại oai lực, đại công đức như vậy để là cùng trợ duyên với Đức Phật để có thể đi độ sanh muôn nơi vậy, chứ dạng 'yếu yếu mà ra gió' cái không khéo chưa kịp độ sanh gì lại chìm nghỉm trong đó [lại tổ tốn công Phật phải 'kéo về' nữa]. Chuyện này có không? Dạ có đấy, cũng khá nhiều đấy chứ không phải ít, còn dạng 'độ sanh' mà chưa được hoàn hảo, viên mãn, như ý nguyện, hay dạng 'nửa đường bị đứt gánh' thì càng nhiều nữa, cho nên chẳng phải 'dễ xơi' đâu, nhất là thời Mạt pháp nhược ma cường [chẳng hạn như ở Ta Bà hiện nay và về sau] chúng sanh ngày càng khó độ, chứ chẳng phải thời đại càng văn minh càng dễ độ đâu nhé, tuy nhiên dù ít dù nhiều thì các vị ấy cũng góp công chung sức cùng Nguyện lực của Phật để lợi lạc chúng sanh vậy, chúng ta cứ thử ngẩm lại xem quá trình tu học của bản thân thì sẽ rõ thôi, rằng ân đức của các Ngài đối với chúng ta là như thế nào. Bởi vậy chúng ta cần phải tranh thủ mà về trong đời này, bởi càng về sau càng khó, và để khỏi phải phụ công ơn của các Ngài cũng như đối với Tam Bảo vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 31. Chân Thật Công Đức
Ngài Hoàng Niệm Tổ
