Chánh kinh:
Phục thứ A Nan! Nhược hữu chúng sanh dục sanh bỉ quốc, tuy bất năng đại tinh tấn Thiền Định, tận trì kinh giới, yếu đương tác thiện. Sở vị: Nhất bất sát sanh, nhị bất thâu đạo, tam bất dâm dục, tứ bất vọng ngôn, ngũ bất ỷ ngữ, lục bất ác khẩu, thất bất lưỡng thiệt, bát bất tham, cửu bất sân, thập bất si. Như thị trú dạ tư duy, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, chủng chủng công đức, chủng chủng trang nghiêm, chí tâm quy y, đảnh lễ cúng dường. Thị nhân lâm chung, bất kinh, bất bố, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh bỉ Phật quốc độ.
Lại này A Nan! Nếu có chúng sanh muốn sanh cõi ấy, nhưng chẳng thể đại tinh tấn Thiền Định, giữ trọn kinh giới, thì phải nên làm lành, nghĩa là: Một là chẳng sát sanh, hai là chẳng trộm cắp, ba là chẳng dâm dục, bốn là chẳng nói dối, năm là chẳng nói thêu dệt, sáu là chẳng ác khẩu, bảy là chẳng nói đôi chiều, tám là chẳng tham, chín là chẳng sân, mười là chẳng si. Ngày đêm tư duy như sau: Các thứ công đức, các thứ trang nghiêm của Cực Lạc thế giới và của A Di Ðà Phật, chí tâm quy y, đảnh lễ cúng dường. Người ấy lâm chung chẳng kinh, chẳng sợ, tâm chẳng điên đảo liền được vãng sanh cõi nước Phật kia.
Giải:
Ðây là chánh nhân thứ hai. Trong loại chánh nhân này có ba điều: Tu hành Thập Thiện; ngày đêm niệm Phật; chí tâm quy y, đảnh lễ cúng dường.
1. Tu hành Thập Thiện: Theo sách Pháp Giới Thứ Ðệ, Thập Thiện là để dứt ác. Dứt những điều ác như trên thì chẳng não loạn người khác. Nay ta thực hành điều thiện để lợi lạc hết thảy.
* Chẳng sát sanh: Dứt ác hạnh sát sanh khi trước, phải nên thực hành điều lành phóng sanh.
* Chẳng trộm cắp: Dứt ác hạnh trộm cắp tài vật của người, nên hành điều lành bố thí.
* Chẳng dâm dục (Chẳng tà dâm): Dứt ác hạnh hành dâm với người chẳng phải là thê, thiếp của mình, nên hành điều lành cung kính.
* Chẳng nói dối: Dứt ác hạnh dối gạt người, nên hành điều lành nói lời chân thật.
* Chẳng nói thêu dệt: Dứt ác hạnh nói lời ác, thêu dệt, điên đảo lý lẽ, nên hành hạnh lành nói lời có nghĩa lợi ích người khác.
* Chẳng ác khẩu: Dứt ác hạnh nói năng ác nghiệt, hại người, nên hành điều lành nói năng mềm mỏng.
* Chẳng nói đôi chiều: Dứt ác hạnh nói xúc xiểm, khuấy rối cả hai bên, nên hành hạnh lành nói lời hòa hợp.
* Chẳng tham: Ðối với các ác hạnh chẳng chán nhàm vừa kể trên nên hành hạnh lành Bất Tịnh Quán, quán cả sáu trần đều là lừa dối, chẳng sạch.
* Chẳng sân: Dứt những ác hạnh sân nộ trước đây, nên hành hạnh lành từ bi, nhẫn nhục.
* Chẳng si (Chẳng tà kiến): Dứt các hạnh “bài bác không nhân quả, tà tâm, nói bậy”, nên hành hạnh lành chánh tín, tâm quay về chánh đạo, sanh tâm lành trí huệ.
Mười thứ thiện kể trên đều là hạnh lành thế gian.
Báo Ân Luận bảo: “Hễ là thiện hạnh đều có thể vãng sanh; nhưng cần phải thường niệm Phật hồi hướng thì chuyển được việc lành thế gian thành cái nhân Tịnh Ðộ. Vì vậy, Phật giảng các kinh đều nói kèm thêm hạnh lành thế gian; nhưng riêng với mười điều thiện này Phật giảng riêng một kinh (kinh Thập Thiện Giới). Tịnh ba nghiệp nơi thân, bốn nghiệp nơi miệng, ba nghiệp nơi ý chính là căn bản của việc tu trì vậy”.
2. Ngày đêm niệm Phật: Kinh dạy: “Trú dạ tư duy, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, chủng chủng công đức, chủng chủng trang nghiêm” (Ngày đêm tư duy các thứ công đức, các thứ trang nghiêm của Cực Lạc thế giới và của Phật A Di Ðà).
Trong Vãng Sanh Luận, Thiên Thân Bồ Tát đã lập ra Ngũ Niệm Môn: Lễ Bái Môn, Tán Thán Môn, Tác Nguyện Môn, Quán Sát Môn, và Hồi Hướng Môn. Luận viết: “Thế nào là tán thán? Khẩu nghiệp tán thán, xưng danh đức Như Lai kia”. Và: “Quán sát có ba thứ, những gì là ba? Một là quán sát công đức trang nghiêm của cõi nước Phật ấy; hai là quán sát công đức trang nghiêm của A Di Ðà Phật; ba là quán sát công đức trang nghiêm của các Bồ Tát trong cõi ấy”.
Ðiều được nói trong kinh này chính là môn thứ tư: Quán Sát Môn.
Nếu kèm cả miệng niệm thì gồm cả môn thứ hai là Tán Thán Môn. Quán Sát hoặc Tán Thán như thế liên tục ngày đêm nên kinh nói: “Trú dạ tư duy” (Ngày đêm tư duy).
3. “Chí tâm quy y, đảnh lễ cúng dường” là môn thứ nhất, tức Lễ Bái Môn. Luận viết: “Thế nào là lễ bái? Thân nghiệp lễ bái A Di Ðà 84 Bác vô nhân quả: Bài bác nhân quả, cho nhân quả là huyễn hoặc, không thật sự có. Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, ý mong sanh về cõi kia”.
“Quy y” lại chính là quy mạng, Vãng Sanh Luận nói: “Nên biết rằng quy mạng chính là lễ bái, nhưng lễ bái chỉ là cung kính, chứ chưa ắt là quy mạng. Quy mạng tất nhiên là lễ bái. Nếu suy như vậy thì quy mạng đáng trọng hơn”. Nay kinh dạy quy y đảnh lễ, lại khuyên chí tâm và kiêm cả cúng dường thì thật đã thể hiện lòng thành tinh chuyên rất mực.
Vãng Sanh Luận nói: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân tu thành tựu Ngũ Niệm Môn thì rốt ráo được vãng sanh cõi nước An Lạc, gặp đức A Di Ðà Phật kia”. Diệu nhân cảm diệu quả cho nên lúc lâm chung được Phật thuận theo bổn nguyện dùng oai thần gia bị “từ bi gia hựu khiến cho tâm chẳng loạn”. Vì vậy, “bất kinh, bất bố, tâm bất điên đảo” (chẳng kinh, chẳng sợ, tâm chẳng điên đảo). “Bất kinh” là chẳng kinh hoàng, hoảng hốt. “Bất bố” là chẳng sợ hãi, khiếp đảm; “bất điên đảo” là tâm chẳng lầm loạn, chánh niệm tưởng nhớ đến Phật vẫn hiện tiền như thường cho nên được vãng sanh.
Kinh văn trong phẩm này chẳng nói lâm chung thấy Phật, nhưng đã được vãng sanh thì tất nhiên Phật sẽ đến đón vì bổn nguyện của Phật là lâm chung đến tiếp dẫn. Nếu Phật chẳng đến đón thì chỉ với tự lực, phàm phu làm sao có thể vãng sanh nổi? Bởi vậy, kinh văn chẳng nói đến. Hơn nữa, phẩm này chuyên giảng nhân hạnh vãng sanh nên chẳng bàn nhiều đến quả cảnh vãng sanh.

Ảnh minh họa: "Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Phật ở nước Xá Vệ, nơi vườn của ông Cấp Cô Độc và cây của ông Kỳ Đà, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ Kheo tụ hội, đều là bậc đại A La Hán mà mọi người biết đến."
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta đến với phần tiếp theo trong phẩm 25, Chánh Nhân Vãng Sanh. Trước hết, chúng ta cần có một chút xíu gọi là 'chỉnh lý' lại phần Việt dịch trong đoạn Kinh văn này cho sát nghĩa hơn, đó là nguyên văn Chánh Kinh: "Phục thứ A Nan! Nhược hữu chúng sanh dục sanh bỉ quốc, tuy bất năng đại tinh tấn Thiền Định, tận trì kinh giới, yếu đương tác thiện", thì nên Việt dịch thành "Nếu có chúng sanh muốn sanh cõi ấy, nhưng chẳng thể đại tinh tấn Thiền Định, [thì phải nên] tận [tâm thọ] trì kinh giới, [ra sức] làm lành", như thế mới sát nghĩa lý Kinh văn hơn, tránh bị hiểu nhầm. Cho nên Phật thuyết thế nào [tức nguyên văn Chánh Kinh thế nào] thì cứ dịch y hệt như vậy, đừng có thêm hay bớt gì cả [theo suy nghĩ của mình], còn muốn thêm bớt thì phải trong dấu ngoặc [] hẳn hoi, như thế mới sát nghĩa, đảm bảo sự chuẩn xác, không bị sai lệch.
Chúng ta có thể đọc phần Chú Giải của các Ngài để tham khảo, nắm rõ hơn. Tuy nhiên trong phần Chú Giải này, cũng lại có một số bất cập có thể nói không hề nhỏ, đó là trong phần đầu của đoạn Kinh văn này có hai nội dung chính, đó là "[Nhược hữu chúng sanh dục sanh bỉ quốc, tuy bất năng đại tinh tấn Thiền Định], tận trì kinh giới, yếu đương tác thiện", tức là "[Nếu có chúng sanh muốn sanh cõi ấy, nhưng chẳng thể đại tinh tấn Thiền Định] [thì phải] thọ trì kinh giới, [ra sức] làm lành". Tuy nhiên các Ngài lại chú giải lược bỏ qua cái yếu tố cốt lõi là "tận trì Kinh giới" [tận tâm thọ trì kinh, giữ giới], mà chỉ cho rằng đoạn Kinh văn này chỉ có nội dung chính là "yếu đương tác thiện" [ra sức làm lành] mà thôi. Thật ra thì cái "tận trì kinh giới" mới là nội dung cốt lõi của phần đoạn Kinh văn này, tức Chánh nhân vãng sanh [trong phần đoạn này], còn phần sau, "yếu đương tác thiện" chỉ là phần trợ hạnh mà thôi, tức một phần của Tịnh Nghiệp Tam Phước [phần "tu Thập Thiện Nghiệp"]. Rồi sai lầm lại nối tiếp sai lầm, do hiểu như thế nên thấy trong đây Phật không nhắc gì tới hạnh Niệm Phật, thì lại lấy đoạn Kinh văn phía sau, "Như thị trú dạ tư duy, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, chủng chủng công đức, chủng chủng trang nghiêm" [Như vậy ngày đêm tư duy, Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật, chủng chủng công đức, chủng chủng trang nghiêm], cho rằng đây là Phật khuyên chúng sanh "trú dạ niệm Phật" [ngày đêm niệm Phật] [thì như thế mới đảm bảo chắc chắc vãng sanh]. Chúng ta thấy ở đây Phật nói là "tư duy" chứ chẳng phải là "niệm" đâu nhé, xin đừng nhầm lẫn ở chỗ này, rằng "ngày đêm tư duy" chứ chẳng phải "ngày đêm niệm" [Phật, hay niệm Cực Lạc Thế Giới]. "Ngày đêm tư duy" [trú dạ tư duy] nghĩa là sao? Nghĩa là thường luôn nghĩ tưởng [tưởng nhớ] [đến công đức và sự trang nghiêm của Phật A Di Đà và Thế Giới Cực Lạc]. Cho nên đọc và dịch Kinh văn phải cẩn thận, kẻo rất dễ thành hiểu không đúng nghĩa lý của lời Kinh Phật thuyết. Nói như vậy thì cái Chánh hạnh Niệm Phật thực chất nằm ở đâu? Sao không thấy Phật nhắc tới trong phần đoạn Kinh văn này? Dạ vâng, đó là nằm trong chỗ "thọ trì" đấy, rằng phải "tận trì Kinh giới" [tận tâm tận sức thọ trì Kinh và giữ Giới], tức Tín Nguyện, Niệm Phật, hay còn gọi là Phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật [cùng giữ Giới].
Còn phần tiếp theo, là Phật triển khai nói rõ ra chỗ "yếu đương tác thiện" [ra sức làm lành] là gồm những gì, đó chính là tu Thập thiện nghiệp đạo, một phần trong Tịnh Nghiệp Tam Phước, gồm: " Nhất bất sát sanh, nhị bất thâu đạo, tam bất dâm dục, tứ bất vọng ngôn,...", đây chính là những trợ đạo thế gian pháp của hành giả Tịnh Độ vậy [chứ chẳng phải Pháp xuất thế đâu mà cho là Chánh yếu, Chánh hạnh]. Cho nên, chúng ta thấy trong đây, Chánh Trợ rất rõ ràng, đầy đủ, chứ chẳng hề thiếu sót gì cả, cũng không có nhập nhằng mà đưa Chánh thành Trợ, Trợ thành Chánh đâu, đó chẳng qua là do chưa xem xét dịch kỹ và hiểu kỹ Kinh văn mà ra cả. Còn như đã dịch nghĩa, hay hiểu nghĩa lý không đúng, sẽ thành ra lấy Trợ làm Chánh ngay. Chẳng hạn ở đây nếu hiểu không đúng Kinh văn đoạn này sẽ lấy "yếu đương tác thiện" [ra sức làm lành] thành yếu tố Chánh nhân để vãng sanh ngay, rồi thành ra cho rằng nếu còn phiền não [tham, sân, si] tức đã 'phạm' vào cái Chánh nhân ấy sẽ chẳng thể được vãng sanh. Đấy, cứ như thế mà luận bàn mãi kiểu như vậy, thiên thu bất tận [nếu nói kiểu này chắc nói tới tận đời vị lai cũng chưa hết], bởi vậy chúng ta thấy việc dịch đúng [và hiểu đúng] Kinh văn nó quan trọng như thế nào rồi.
Thật sự rằng, thông qua các phần đoạn Kinh văn thời gian vừa qua, gồm cả phẩm Ba Bậc Vãng Sanh và phẩm này, Chánh Nhân Vãng Sanh, chúng ta thấy rằng để được chắc chắn vãng sanh cõi nước ấy, tức lâm chung chắc chắn được Phật rước, vào thẳng Chánh quốc [không phải Pháp Biên Địa], thì yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong bất kỳ một bậc vãng sanh nào, hay [một phần đoạn Kinh văn của] chánh nhân vãng sanh nào, đó là "thọ trì" [Kinh văn này], đây là yếu tố không thể không nhắc tới. Vì sao? Bởi đơn giản rằng đây chính là cái Chánh nhân [duy nhất] của việc [chắc chắn được] vãng sanh vậy, nên Phật không thể không nhắc tới, dù trong bất kỳ tình huống, cảnh giới, hay phẩm vị nào đi nữa. Còn như đã không nắm rõ chỗ này thì hoặc dịch không đúng nghĩa lý [những chỗ rất quan trọng], hoặc giả liễu nghĩa, chú giải cũng không chuẩn xác. Dĩ nhiên đây là chỉ nói riêng chỗ này thôi hay một vài sơ suất chỗ khác, không phải tất cả, chúng ta đọc các trước tác, hay các tác phẩm cẩn dịch của các Ngài, thì cần phải có sự trạch pháp vậy, bởi không có tác phẩm hay trước tác nào là hoàn chỉnh tuyệt đối cả, những công lao đóng góp của các Ngài cho hàng hậu học là vô cùng lớn lao, sâu đậm, không bao giờ phai mờ vậy.
Chổ "Thị nhân lâm chung, bất kinh, bất bố, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh bỉ Phật quốc độ" [Người ấy lâm chung chẳng kinh, chẳng sợ, tâm chẳng điên đảo liền được vãng sanh cõi nước Phật kia], đây chính là cái quả được hưởng của hành nhân lúc lâm chung, rằng tâm chẳng điên đảo, liền được vãng sanh cõi nước Phật kia. Chúng ta thấy có chỗ nào Phật nhắc phải "nãi chí thập niệm" hay "một niệm tịnh tín", hay "mười niệm tất sanh" gì ở đây nữa không? Hay là chắc chắn Phật sẽ đến rước, bất kể hoàn cảnh nhân duyên lúc ấy ra sao [thì vẫn chắc chắn "bất kinh, bất bố, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh bỉ Phật quốc độ"]. Nếu ai còn nghi ngờ điều này, hay còn suy nghĩ theo Pháp Biên Địa thì hãy vào xem kỹ đoạn Kinh văn này, và các đoạn Kinh văn khác gần đây, xem xem lúc lâm chung có bao giờ Phật nhắc đến chữ "niệm" [tức một niệm, mười niệm gì đó bắt buộc phải có lúc đó] hay không? Hay là cả một đời hành trì [thọ trì, chánh, trợ] là nhân, thì đến lúc cuối ắt sẽ gặt quả, rằng chắc chắn Phật sẽ đến rước, vào thẳng Chánh quốc, mà chẳng cần phải có thêm bất cứ 'động thái' nào cho lúc đó cả. Dĩ nhiên ở đây là đang bàn về cái Pháp chính tông chính yếu chứ chẳng phái nói về Pháp Biên Địa. Còn với Pháp Biên Địa đó là một câu chuyện hoàn toàn khác, mà sẽ được Phật nhắc tới trong một phần đoạn Kinh văn khác vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 25. Vãng Sanh Chánh Nhân
Ngài Hoàng Niệm Tổ
