Nhược Hữu Chúng Sanh Trụ Đại Thừa Giả, Dĩ Thanh Tịnh Tâm, Hướng Vô Lượng Thọ, Nãi Chí Thập Niệm...

 

 

NPSTD7

Nhược Hữu Chúng Sanh Trụ Đại Thừa Giả, Dĩ Thanh Tịnh Tâm, Hướng Vô Lượng Thọ, Nãi Chí Thập Niệm...

Chánh kinh:
Nhược hữu chúng sanh trụ Đại Thừa giả, dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ, nãi chí thập niệm, nguyện sanh kỳ quốc, văn thậm thâm pháp, tức sanh tín giải, nãi chí hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm ư bỉ Phật. Thử nhân lâm mạng chung thời, như tại mộng trung, kiến A Di Đà Phật, định sanh bỉ quốc, đắc Bất Thoái Chuyển Vô Thượng Bồ Đề.
Nếu có chúng sanh trụ trong Ðại Thừa, dùng tâm thanh tịnh hướng về Vô Lượng Thọ Phật, dẫu chỉ mười niệm nguyện sanh cõi kia, nghe pháp thậm thâm liền sanh tin hiểu; thậm chí đạt được một niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm đức Phật kia thì người ấy lúc mạng sắp dứt, giống như ở trong mộng, thấy A Di Ðà Phật, quyết định sanh trong cõi ấy, được chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Bồ Ðề.

Giải:
Cả đoạn kinh trên hoàn toàn trích từ bản Ðường dịch. Cả hai bản Ngụy dịch và Ðường dịch dường như xuất phát từ cùng một Phạn bản, nhưng lời kinh trong bản Ðường dịch mạch lạc phân minh hơn, lời văn phong phú, ý nghĩa sâu sắc vượt xa bản Ngụy dịch. Bản Ngụy dịch ghi chép những ý này tản mác ở đầu phẩm lẫn cuối phẩm (Kinh Vô Lượng Thọ bản Ngụy dịch không chia thành phẩm. Cụ Hoàng Niệm Tổ dùng chữ “phẩm” ở đây để chỉ toàn bộ đoạn kinh lớn nói về tam bối vãng sanh trong kinh ấy – Chú thích của người dịch). Trước phần nói về bậc Thượng vãng sanh, bản Ngụy dịch chép: “Chư hữu chúng sanh văn kỳ danh hiệu, tín tâm hoan hỷ, nãi chí nhất niệm chí tâm hồi hướng, nguyện sanh kỳ quốc, tức đắc vãng sanh” (Có các chúng sanh nghe danh hiệu Ngài, lòng tin hoan hỷ, thậm chí một niệm chí tâm hồi hướng nguyện sanh cõi ấy thì liền được vãng sanh); kế đó, trong phần nói về bậc Hạ vãng sanh lại bảo:
“Kỳ hữu chí tâm, dục sanh bỉ quốc, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát Vô Thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm, nãi chí thập niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật, nguyện sanh kỳ quốc. Nhược văn thâm pháp, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc, nãi chí nhất niệm, niệm ư bỉ Phật, dĩ chí thành tâm nguyện sanh kỳ quốc. Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc vãng sanh, công đức trí huệ thứ ư Trung bối giả dã” (Có kẻ chí tâm muốn sanh cõi ấy nhưng giả sử chẳng thể làm các công đức thì phải nên phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề, một bề chuyên niệm, dẫu chỉ mười niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật nguyện sanh cõi Ngài. Nếu nghe pháp sâu mà hoan hỷ, tin ưa, chẳng sanh ngờ vực thậm chí trong một niệm, niệm đức Phật ấy, dùng tâm chí thành nguyện sanh về cõi Ngài thì người ấy lúc lâm chung mộng thấy đức Phật đó cũng được vãng sanh. Công đức, trí huệ kém hơn bậc Trung).

Dựa theo bản Ngụy dịch, đại sư Hải Ðông Nguyên Hiểu đời Ðường đã viết trong tác phẩm Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu như sau:
“Trong bậc Hạ, [kinh] nói đến hai hạng người. Trong hai hạng người đó, [với mỗi hạng] đều có ba câu. Ba câu của hạng đầu là:
1. Một là giả sử chẳng thể làm các công đức thì phải phát Vô Thượng Bồ Ðề tâm, đấy là chánh nhân.
2. Hai là dẫu chỉ mười niệm chuyên niệm đức Phật kia, đấy là duyên để trợ giúp cho nghiệp được viên mãn.
3. Ba là nguyện sanh cõi kia, nguyện này hợp với những hạnh trên tạo thành cái nhân.
Ðây là nói về hạng người Bất Định Tánh.
Ba câu của hạng thứ hai là:
1. Một là nghe pháp thậm thâm, hoan hỷ tin ưa. Câu này nói rõ thêm về chánh nhân phát tâm, hạng này chỉ khác với hạng trên ở chỗ có lòng tin sâu xa.
2. Hai là thậm chí trong một niệm, niệm đức Phật kia. Ðấy là duyên để trợ giúp cho nghiệp được viên mãn. Câu này chỉ rõ: Hạng trên do không có lòng tin sâu xa nên cần phải có mười niệm, còn hạng này do lòng tin sâu xa nên chẳng cần phải đủ cả mười niệm.
(Trộm nghĩ: Ngài Nguyên Hiểu đưa ra thuyết này vì chỉ dựa trên bản Ngụy dịch. Nếu xét theo hội bản, một niệm mà được vãng sanh thì toàn là do đạt được một niệm tịnh tâm. Từ trong nhất tâm, niệm danh hiệu Phật một tiếng thì ngay lập tức tương ứng với bổn nguyện của Phật Di Ðà; vì vậy, khi lâm chung liền được vãng sanh).
3. Ba là dùng tâm chí thành nguyện sanh cõi kia. Nguyện này hợp với những hạnh trên tạo thành cái nhân. Ðây là nói về hạng người thuộc chủng tánh Bồ Tát (Ðấy là như bản Ngụy dịch chép là “trụ Đại Thừa giả” (bậc trụ trong Ðại Thừa)). (...)

TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ 55

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà chùa Vĩnh Tràng, Tiền Giang.

Chúng ta tiếp tục đến với phần Kinh văn tiếp theo trong phẩm 24, Tam Bối Vãng Sanh. Trong phần đoạn này Đức Phật tiếp tục nói về một 'thể loại' vãng sanh nữa, nhưng Ngài không nói rõ đây là thuộc nhóm bậc vãng sanh nào, rằng "Nhược hữu chúng sanh trụ Đại Thừa giả, dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ, nãi chí thập niệm, nguyện sanh kỳ quốc, văn thậm thâm pháp, tức sanh tín giải, nãi chí hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm ư bỉ Phật". Thật ra thì những điều này Đức Phật đã từng nói trong các đoạn Kinh văn trước rồi, chẳng có gì mới cả, chỉ là cách sắp xếp, trình tự của văn tự hơi khác đi, song ngữ nghĩa thì cũng vậy thôi. Chỗ "nếu có chúng sanh trụ trong Ðại Thừa" nghĩa là gì? Đó chính là 'phát tâm Vô Thượng Bồ Đề' [tức cầu viên thành Phật đạo] trong các phần đoạn trước vậy, bởi chỉ có Đại Thừa mới cầu đến quả vị Phật viên mãn, còn Tiểu Thừa chỉ cầu đến Thánh quả xuất Tam Giới là hết. Còn các phần tiếp theo, "dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ, nãi chí thập niệm, nguyện sanh kỳ quốc, văn thậm thâm pháp, tức sanh tín giải, nãi chí hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm ư bỉ Phật", tức là phát một niệm [hay mười niệm] Tịnh Tín như Phật đã nói trong các phần trước. Vậy tại sao Phật lại nói riêng thêm ra phần Kinh văn này? Và chúng thuộc về bậc vãng sanh nào đây? Bởi chúng ta để ý rằng trong các phần trước, Phật cũng nói đến 'nhất niệm Tịnh Tín' trước, rồi mới nói đến ba bậc vãng sanh, lý do vì sao? Lý do Phật tách riêng ra như thế, giống như trường hợp Kinh văn này, Phật cũng dành riêng ra một phân đoạn tương tự, đó chính là do phần đoạn Kinh văn này là dành cho hạng Bét vậy, tức dành cho những trường hợp lâm chung mới bắt gặp Chánh Pháp, rồi phát khởi và niệm được một niệm [hay vài niệm, mười niệm] Tịnh Tín, như thế thì cũng được Phật kịp thời đến rước trước khi tắt hơi, vẫn được vào thẳng Chánh quốc. Đơn giản vấn đề chỉ có vậy. Đây là dạng đặc biệt, vì thời gian hữu hạn, gấp rút, nên chỉ cần vài niệm [cả Tín và Hành] lúc cuối, thì đều được vãng sanh. Còn tất cả các trường hợp còn lại, có thời gian tu tập hành trì lâu hơn, nhiều hơn [nên chắc chắn phẩm vị ưu thắng hơn] thì đã nói rất rõ trong ba bậc vãng sanh rồi. Chúng ta thấy rõ rằng, không thể cộng gộp phần đoạn "nhất niệm Tịnh tín" này vào phần Hạ Phẩm Vãng Sanh được, mặc dù hạng Bét này cũng thuộc phần Hạ Phẩm đấy, nhưng do tính chất của vấn đề lại khác biệt hẳn ra, đó là có thể 'gộp lại' thành một niệm [mười niệm] Tịnh Tín [tức vừa có Tín tâm vừa niệm, gần như cùng lúc, cùng số lượng], cho nên đây là dạng trường hợp đặc biệt, có một không hai vậy. Còn tất cả các dạng còn lại của ba bậc thì do thời gian tu tập lâu dài hơn, nên số lượng hành trì đương nhiên phải nhiều hơn gấp bội, hay nói cách khác là giữa Tín tâm và Hành trì là hai vấn đề hoàn toàn khác hẳn nhau, không còn trùng khớp hay giống nhau [bằng nhau] như trường hợp đặc biệt kia nữa. Bởi vậy chúng ta thấy, chỉ cần nắm rõ Tông chỉ tông yếu là hầu như mọi vấn đề trong Kinh văn [những phần nói về Tông chỉ] đều được sáng tỏ, rõ ràng minh bạch cả thôi, còn không chúng ta mà đọc các chú giải của các Ngài, người nói thế này người nói thế kia, chắc có mà loạn trí mất. Cho nên ai thích đọc thì cứ đọc để tham khảo thôi, nhưng phải có con mắt, trí huệ để trạch pháp, chọn lọc, lấy bỏ mới được, bởi không khéo đọc riết một hồi thành mất phương hướng luôn, chẳng biết đâu mà lần nữa.

Chúng ta dành chút thời gian để tiếp tục nói về việc gầy dựng Tín Nguyện tâm trong tu tập. Chúng ta thấy vấn đề mấu chốt trong việc gầy dựng Tín tâm chân thật đó chính là phải tin chắc chẳng nghi Di Đà Bổn Nguyện [chỗ "nhược bất sanh giả bất thủ Chánh Giác"], mà muốn có được niềm tin này thì dựa vào đâu? Rõ ràng như các Ngài dẫn ra, chỉ cần dựa vào lời Kinh Phật thuyết, rằng "[Đức Phật] thành Phật đến nay đã mười kiếp, hiện đang thuyết pháp", chỉ cần có vậy, là đủ cơ sở nương tựa để có Tín tâm chân thật với Bổn Nguyện. Bởi như thế thì rõ ràng rằng chắc chắn Bổn Nguyện đã thành tựu, là chân thật, là không thể hư dối được, bởi nếu hư dối hay chưa thành tựu thì làm sao Phật thành Phật [như hiện tại đây] cho được! Thế cho nên phải tin Bổn Nguyện, không được hoài nghi [chỗ "nếu không vãng sanh, Phật chẳng thủ ngôi Chánh Giác"], từ đó mà gầy dựng nên Tín tâm chân thật. Bởi nếu còn hoài nghi [Bổn Nguyện] đó là do hoặc là hiểu không đúng nghĩa lý Kinh văn [cho rằng mười niệm này là dành cho lúc lâm chung bắt buộc phải có], hoặc giả là do chưa vận dụng được cái Lý trong lời Kinh Phật thuyết để làm cơ sở nương tựa cho Tín tâm của mình [chỗ "thành Phật đến nay đã mười kiếp..."], hoặc là do thời gian học tập, huân tu chưa đủ lâu, chưa đủ sâu, để thấm nhuần dần giáo lý Kinh văn cùng hành trì cho chân thật, nghiêm túc, tức chưa thật sự "vì sanh tử, phát Bồ Đề tâm" để gầy dựng Tín Nguyện tâm vậy. Cho nên cái gì cũng phải cần thời gian, quá trình tích lũy, hun đúc dần lên vậy, cùng với đó là sự kiên định, chánh kiến [đặt trọn niềm tin vào lời Phật thuyết], không bị sao nhản hay bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố ngoại duyên nào khác. Việc này nói thì đơn giản nhưng cũng phải cần ra sức học tập, rèn luyện, trao dồi, tu tập không ngừng nghỉ vậy, chứ chẳng phải tự nhiên mà có được ngay đạo tâm, đạo lực, đạo hạnh như vậy, để dần có được tâm thần, trí lực, ý chí vững mạnh, kiên định, không lay động trước mọi tác động, biến đổi không ngừng của thời cuộc, ngoại cảnh, ngoại duyên bên ngoài, rằng 'tâm bất biến, giữa dòng đời vạn biến', rồi phải 'bất biến nhưng tùy duyên', 'tùy duyên mà bất biến' nữa... Nói chung, để có được cái chánh kiến, chánh tư duy cho mình [tức dần tự lực phán xét, tư duy, giảm dần phụ thuộc], như thế mới được, lúc đó mới gọi là có Tín tâm chân thật, tin sâu, nguyện thiết, bất sanh nghi hoặc vậy. Cho nên mới nói thời cuộc hiện nay và về sau cần phải Chánh - Trợ song tu là vậy, nhất là dạng tu đường dài, đừng có mong đánh nhanh thắng gọn hay quá lý tưởng hóa hình thức tu tập mà thành ra 'dục tốc bất đạt' hay 'nói một đằng làm một nẻo' vậy.

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 24. Tam Bối Vãng Sanh

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.