Thư trả lời hai vị cư sĩ Trầm Tịnh Tâm và Kim Đàm
Pháp Niệm Phật thuận tiện cùng cực, đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm đều niệm được, cần gì phải đợi giữa trưa, ban tối mới niệm được? Hết thảy thời, hết thảy chỗ đều niệm được. Chỗ sạch sẽ thì niệm ra tiếng hay niệm thầm đều được. Khi đại tiểu tiện, chỗ không sạch sẽ và lúc ngủ, chỉ nên niệm thầm. Công đức niệm thầm vẫn giống hệt [như niệm ra tiếng], sao lại chỉ giữa trưa hay ban tối mới niệm được? Xưa kia, ẩn cư trong chốn núi rừng là tốt, chứ bây giờ lòng người bại hoại đến cùng cực, vì mấy thưng gạo, một manh áo đã chịu giết người! Các ông hãy ở nhà niệm Phật, đừng manh nha ý niệm ẩn cư! Xin hãy sáng suốt soi xét. Từ rày đừng gởi thư đến nữa vì tôi không có sức để thù tiếp vậy!
Thư trả lời cư sĩ Hồ Huệ Triệt
(thư thứ nhất)
Nương theo “trí huệ của Phật” mà tu
Ba vị lão nhân xin quy y, ông hãy nên bảo họ: “Phải nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chớ nên chỉ biết gieo thiện căn, cầu phước báo đời sau. Sanh về Tây Phương liền liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Cầu đời sau thì sẽ do phước tạo nghiệp, do nghiệp đọa lạc trong tam đồ ác đạo”. Những điều còn lại hãy chiếu theo bức thư dài, ở đây không viết cặn kẽ! Thiệu Cát Thành pháp danh là Huệ Thành, bà Trương Lập Chí nhà họ Thiệu pháp danh là Huệ Lập. Kẻ có chí, sự ắt thành. Tự lập được thì không có gì chẳng tốt đẹp. Bà Phùng Tu Thành nhà họ Trương, pháp danh là Huệ Tu. Nương theo trí huệ của đức Phật mà tu thì chắc chắn sẽ có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là cái được gọi bằng [từ ngữ] “trí huệ của Phật” đấy! Xin hãy nói với bọn họ [những điều này]. (Ngày Hai Mươi Hai tháng Mười Một năm Dân Quốc 22 - 1933, viết dưới đèn)
(thư thứ ba)
Hãy nên tha thiết răn dạy con cháu biết tốt - xấu
Hãy hết sức răn nhắc xã hữu đừng nhiễm phong cách si dại của Dịch Viên. Nếu không, sẽ trở thành ngoại đạo trong Phật pháp, đâm ra phá hoại Phật pháp, làm cho chúng sanh lầm lạc, nghi ngờ trọn chẳng cùng tận! Dịch Viên hèn kém cùng cực đến mức như thế chính là điều Quang trọn không thể nào lường được! Bệnh ấy là do ham đội mũ cao và tưởng Trương Kiển là Bồ Tát, chẳng tự biết toàn thân đã té trong hầm phân, há đáng gọi là thanh tịnh, thơm sạch được ư? Hãy nên tha thiết răn dạy con cháu biết tốt - xấu, kẻo sau này chúng không hiểu sẽ tưởng tà là chánh, coi thối là thơm. Hiện tại vận nước nguy ngập, thiên tai, nhân họa liên tiếp xảy ra, hãy nên bảo hết thảy mọi người cùng niệm Phật hiệu và danh hiệu Quán Thế Âm để làm kế dự phòng (Ngày mồng Hai tháng Bảy năm Dân Quốc 28 - 1939)
(thư thứ tư)
Thư ngày mồng Sáu tháng Ba chưa nhận được. Bà Châu Xảo Trinh nhà họ Mã có thể nói là có thiện căn đời trước; đấy là những chuyện có chứng cứ đích xác, cần gì Quang phải làm chứng? Nếu không có tướng lành để làm căn cứ [chứng nghiệm sự vãng sanh] thì xin chứng minh còn được. Nay đã có chuyện thần hồn du ngoạn cõi Tịnh Độ, lại được Quán Âm báo kỳ hạn vãng sanh, mà vẫn cầu chứng thì thành ra tri kiến của kẻ chẳng biết pháp môn Tịnh Độ rồi! Xin hãy gởi [chuyện này] cho Phật Học Thư Cục để họ đăng tải trên tờ bán nguyệt san, tài liệu chánh yếu của họ mang tánh chất khác với tờ báo Tân Thân.
Tuy nhiên, hoằng dương Phật pháp thì phải chú trọng nơi chân thật chẳng hư vọng. Nếu tùy ý tô vẽ thì lỗi ấy cũng chẳng nhỏ nhoi đâu! Vì sao vậy? Vì sẽ khiến cho người ta do chuyện tô vẽ này mà nói những người vãng sanh xưa nay đều là không thật. Nếu xác thật không ngụy tạo thì đăng tải chẳng trở ngại gì! Nếu không, hãy gạt bỏ những chuyện tô vẽ, chỉ đăng tải những chuyện thuộc về bản chất. Nếu không có căn cứ trọng yếu, hãy nên thủ tiêu đi. Đối với chuyện quy y thì đã sanh về Tây Phương, dự vào địa vị thánh, thân cận Tam Thánh, còn quy y phàm Tăng làm chi nữa? Quang một mực chẳng thích người khác giả vờ! Nếu chân thật chẳng dối trá, cố nhiên nên đăng báo. Nếu không, kẻ viết bài văn ấy phạm tội lỗi, mà người chết cũng trọn chẳng được hưởng lợi ích gì! (Ngày Hai Mươi Tám tháng Ba năm Dân Quốc 29 - 1940)
Nam Mô A Di Đà Phật
Thư đầu: Pháp Niệm Phật thuận tiện cùng cực, đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm đều niệm được, cần gì phải đợi giữa trưa, ban tối mới niệm được? Hết thảy thời, hết thảy chỗ đều niệm được. Chỗ sạch sẽ thì niệm ra tiếng hay niệm thầm đều được...
Điều này thì tất cả chúng ta đều đã rõ, thời Mạt pháp này thì chỉ có Pháp Niệm Phật này là phù hợp với căn cơ và hoàn cảnh nhất, "hạ thủ dễ, thành tựu cao", mọi lúc mọi nơi, đi, đứng, nằm, ngồi... bốn oai nghi đều thực hành được, lúc niệm thầm, khi lại niệm ra tiếng, tùy nơi chốn hoàn cảnh, tùy ý thích, nếu có thể thì niệm đâu tâm đó lại càng hay, nhưng quan trọng nhất vẫn là các thời khóa công phu hàng ngày ngày hai thời, ba thời, bốn thời... công phu cá nhân tại nhà hay cộng tu cùng đạo tràng gì đó phải giữ đều đặn chuyên cần, nghiêm túc, cẩn mật, không biếng trễ, sao nhãng. Lý - Sự phải viên dung, không được chấp lý bỏ sự hay ngược lại, bởi chúng sẽ bổ sung tương hổ tích cực cho nhau vậy. Thông thường các bậc 'thông gia' này kia thì hay chấp lý mà bỏ [hay xem nhẹ] sự, còn các bậc ngu phu ngu phụ thì ngược lại, chỉ lo thực hành không màng đến cái lý, tất cả đó đều gây nguy hại tiềm ẩn trong đó, chúng ta không thể không biết, nhất là với thời cuộc tạp loạn thông tin bùng nổ như hiện nay, làm bậc thông gia [suông] dĩ nhiên là không nên mà lối kiểu 'tu mù' không biết gì cũng khá nguy hiểm, bởi coi chừng một cơn gió mạnh hay một trận 'cuồng phong' thông tin [đa chiều] nào đó thổi qua thì chính những kẻ tu mù kia sẽ bị cuốn đi đầu tiên, bởi chẳng có trí huệ để phán xét đúng sai tà chánh, mà cũng chẳng có chỗ nơi để bấu víu nương tựa, bởi chẳng có sự chuẩn bị, lập dựng từ trước vậy.
Thư thứ hai, đoạn: Kẻ có chí, sự ắt thành. Tự lập được thì không có gì chẳng tốt đẹp. Bà Phùng Tu Thành nhà họ Trương, pháp danh là Huệ Tu. Nương theo trí huệ của đức Phật mà tu thì chắc chắn sẽ có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương...
"Kẻ có chí, sự ắt thành", cho dù Pháp thế gian hay xuất thế gì đi nữa thì cũng đều phải như vậy cả. Cho nên dù có nói Pháp môn 'dễ thành tựu' thì cái 'dễ' ở đây là so với các Pháp môn khác thôi, chứ chẳng phải không cần phải cố gắng nổ lực ra sức tu học, và đặc biệt đó là sự bền bỉ lâu dài, tinh thần kiên định vượt khó vượt khổ, vượt mọi thử thách chướng ngại, vượt mọi không gian thời gian, vượt qua mọi hoàn cảnh nhân duyên mới được. Chứ đường đời đường đạo mấy chục năm như thế nói là ngắn ngủi so với đại cuộc thôi chứ thật ra cũng dài dằng dặc ấy chứ chẳng phải chuyện chơi. Cho nên việc tu học cũng rất cần ít nhiều niềm vui, pháp vị gì đó để giúp hưng khởi cái tâm tu đạo, và đặc biệt là cần đồng hành cùng những người cùng chí hướng để cùng tương trợ, dìu dắt nhau, thúc đẩy ý chí cho nhau giúp vượt qua mọi khó khăn thử thách, cùng vui hưởng niềm vui Pháp đạo mang lại cho mỗi người. Như thế thì mới đường đạo đường đời mới có thể dung thông tốt đẹp và đi đến cái kết cục tốt đẹp viên mãn.
Đoạn tiếp: Nương theo trí huệ của đức Phật mà tu thì chắc chắn sẽ có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là cái được gọi bằng [từ ngữ] “trí huệ của Phật” đấy!
Đây mới là nội dung 'cốt lõi' mà chúng ta cần học tập trong bức thư này. Ở đây Ngài nói "Sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là cái được gọi bằng “trí huệ của Phật” đấy", nghĩa là sao? "Trí huệ của Phật" ở đây là gì? Dạ, đó chính là Kinh giáo, là Tịnh Độ ba Kinh một Luận, cụ thể hơn nữa, đó chính là Di Đà Bổn Nguyện. Bởi đây chính là những giáo pháp được "trí huệ của Phật" nói ra, cho chúng sanh nương theo tu học mà được liễu thoát. Hay nói cách khác, chúng sanh nào nương theo những Giáo pháp này mà tu học đó chính là đang "nương theo trí huệ của đức Phật mà tu học", như thế thì sẽ "chắc chắn sẽ có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này". Chúng ta thấy rằng những lời giáo huấn khai thị của các Ngài dù trong các thời kỳ khác nhau cách xa cả ngàn năm nhưng vẫn là y hệt như nhau vậy, câu chữ ý nghĩa không khác gì cả. Hay nói cách khác thì Chánh pháp thì chỉ có một, dù ở giai đoạn thời kỳ nào đi nữa. Pháp môn này thì chỉ Phật cùng Phật mới hiểu hết, cho nên tốt nhất phàm phu chúng ta cứ nương tựa giáo Pháp Đức Phật [Thích Ca] truyền trao lại thôi, đó cũng tức là "nương theo trí huệ" của Ngài vậy. Điều này cũng đồng nghĩa với điều gì? Đó là đừng có phát sanh ra các kiến giải này kia nữa, để bắt mình [cùng người] tu học theo, vì sao? Bởi như thế thật sự là không cần thiết hoặc giả sẽ dẫn đến sai lệch so với "trí huệ" của Như Lai vậy, trừ phi là A Di Đà Phật tái lai chẳng hạn thì được. Cho nên cho dù có là Đại Bồ Tát tái lai độ sanh đi nữa, nhưng nếu nói không đúng với giao lý trong Kinh giáo thì cũng không thể nghe theo, vì các vị ấy rõ ràng vẫn chưa đạt "trí huệ Như Lai", với riêng Pháp môn này là như vậy. Cho nên, thôi tốt nhất là Kinh giáo nói sao thì ta cứ biết y như vậy là được, không thêm không bớt gì cả, cứ tin theo đúng như vậy mà tu học. Rằng Kinh nói "nãi chí thập niệm" thì chỉ biết như vậy, không thêm bớt hay suy diễn gì cả, hạng bét chỉ cần như vậy là được sanh, và tất cả các thứ hạng khác điều kiện cũng như thế, không khác, tức là tất cả đều được sanh, trong đó có chúng ta đây. Bởi nếu không như thế thì Bổn Nguyện bị hư dối ư? Mà Phật đã thành Phật rồi, tức Bổn Nguyện đã thành tựu, không phải là lời Thệ Nguyện suông, cho nên nhất định không thể khác được. Nói cách khác nếu Bổn Nguyện không thành tựu [tức hứa suông] thì Phật đã không thể thành Phật được. Mà Phật đã thành Phật đến nay đã mười kiếp, như Kinh nói, thế nên chắc chắn Bổn Nguyện không hư dối, đồng nghĩa chắc chắn Phật sẽ phải rước ta, không thể khác được. Cách gầy dựng phát khởi Tín tâm là như vậy đấy. Mà ai tin theo và hành trì thì chắc chắc có vé về Cực Lạc trong đời, như Ngài đã viết "Nương theo trí huệ của đức Phật mà tu thì chắc chắn sẽ có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này". Còn như ai vẫn nhất quyết chẳng chịu tin nhận thì thôi, đành chịu vậy... Nhưng chúng ta cũng cần nên kiên trì với họ, bởi cái gì cũng phải từ từ, cần thời gian, mưa dầm sẽ thấm đất...
Các đoạn còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.
Văn Sao Tam Biên, quyển 1
Đại Sư Ấn Quang
Như Hòa chuyển ngữ