Chánh kinh:
Nhược đa sự vật, bất năng ly gia, bất hạ đại tu trai giới, nhất tâm thanh tịnh. Hữu không nhàn thời, đoan chánh thân tâm, tuyệt dục, khử ưu, từ tâm tinh tấn. Bất đương sân nộ, tật đố, bất đắc tham thiết, xan tích, bất đắc trung hối, bất đắc hồ nghi. Yếu đương hiếu thuận, chí thành trung tín, đương tín Phật kinh ngữ thâm, đương tín tác thiện đắc phước. Phụng trì như thị đẳng pháp, bất đắc khuy thất. Tư duy thục kế, dục đắc độ thoát. Trú dạ thường niệm, nguyện dục vãng sanh A Di Đà Phật thanh tịnh Phật quốc. Thập nhật thập dạ, nãi chí nhất nhật nhất dạ bất đoạn tuyệt giả, thọ chung giai đắc vãng sanh kỳ quốc.
Nếu [người] lắm sự vật chẳng thể lìa nhà, chẳng rảnh rỗi để rộng tu trai giới, nhất tâm thanh tịnh thì hễ có lúc rảnh rỗi liền đoan chánh thân tâm, tuyệt dục, bỏ lo, từ tâm tinh tấn, chẳng nên sân nộ, ghen ghét, chẳng được tham ăn, keo tiếc, chẳng nên giữa chừng hối hận, chẳng nên hồ nghi, phải nên hiếu thuận, chí thành, trung tín, nên tin lời kinh Phật sâu xa, nên tin làm lành được phước. Phụng trì những pháp như vậy chẳng được thiếu sót, suy nghĩ kỹ càng, muốn được độ thoát. Ngày đêm thường niệm, nguyện muốn vãng sanh cõi Phật thanh tịnh của A Di Ðà Phật. Trong mười ngày mười đêm cho đến một ngày một đêm chẳng đoạn tuyệt thì lúc tuổi thọ hết đều được vãng sanh cõi ấy.
Giải:
Chánh nhân vãng sanh thứ ba này gồm hai điều: Một là tu hành các điều lành thế gian; hai là chộp ngay lúc rảnh trong khi bận rộn để chánh niệm hầu được vãng sanh.
Loại chánh nhân này dành cho kẻ bận rộn trăm công nghìn việc, thời gian rảnh rỗi rất ít nên chưa thể tu trai giới đầy đủ cũng như khó lòng giữ nhất tâm thanh tịnh được. Những người như vậy nên nỗ lực làm lành, nên chộp ngay lúc rảnh giữa cơn bận rộn, khéo giành thời cơ: Hễ gặp duyên liền tu chẳng để lỡ uổng thì cũng quyết định được vãng sanh. Ðiểm kỳ diệu của Tịnh Tông là “chẳng lìa Phật pháp mà hành thế pháp, chẳng phế thế pháp mà chứng Phật pháp” (xem Báo Ân Luận).
Câu “hữu không nhàn thời” (hễ có lúc rảnh rỗi) là câu thừa tiếp ý trên bận bịu công việc nên chưa thể thân nhàn, tâm tịnh để tu rộng các trai giới. Vậy thì nên khéo giành thời cơ, hễ rảnh liền tu, trừ khử những nỗi lo lắng việc đời, dũng mãnh chuyên tu. Ý này xuyên suốt từ chữ “hữu không nhàn thời” (hễ có lúc rảnh rỗi) cho đến chữ “nhất nhật nhất dạ bất đoạn tuyệt” (một ngày một đêm chẳng đoạn tuyệt).
“Ðoan chánh thân tâm” là thân giữ trang nghiêm, tâm ý ngay chánh. Phẩm Trược Thế Ác Khổ ghi: “Nhữ đẳng năng ư thử thế, đoan thân chánh ý, bất vi chúng ác, kham vi đại đức” (Các ông nếu có thể trong đời này đoan tâm chánh ý, chẳng làm các điều ác thì thật có đức lớn). Phẩm Trùng Trùng Hối Miễn (bao lượt khuyên lơn) cũng chép: “Nhược tào tác thiện vân hà đệ nhất? Đương tự đoan tâm, đương tự đoan thân, nhĩ, mục, khẩu, tỵ, giai đương tự đoan” (Nếu các ông muốn làm lành thì thế nào là bậc nhất? Hãy nên tự đoan nghiêm tâm, nên tự đoan chánh thân, tai, mắt, mũi, miệng, đều nên tự đoan chánh). Vì vậy, gặp lúc rảnh rỗi thì trước hết phải đoan thân, chánh ý.
“Tuyệt dục” là trong lúc tu tập như vậy, phải dứt hết những ý tưởng ái dục nam nữ. “Khử ưu” là buông bỏ hết thảy những mối lo nghĩ việc đời. “Từ tâm” là tâm ban vui cho chúng sanh, tu trì như vậy nhằm lợi lạc hữu tình.
“Tinh tấn” là dũng mãnh tu thiện, đoạn ác. Sách Phụ Hành, quyển hai nói: “Chẳng nhiễm pháp là Tinh (精), niệm niệm cầu hướng đến là Tấn (進)”.
Hoa Nghiêm Ðại Sớ, quyển năm ghi: “Tâm chuyên nơi pháp thì gọi là Tinh; chuyên tâm thực hành để đạt bổn thì gọi là Tấn”. Ý nói: Tinh là dốc một tấm lòng nơi Phật pháp. Dùng cái tâm tinh chuyên ấy để hoàn thành nhiệm vụ thấu hiểu bổn tâm thì gọi là Tấn. Hiểu thấu bổn tâm, sáng tỏ bổn tánh của mình thì gọi là “đạt bổn”. Ý nghĩa chữ “tinh tấn” do Ðại Sớ giảng có phần thù thắng hơn.
Từ chữ “bất đương sân nộ” (chẳng nên sân nộ) cho đến “chí thành trung tín” là nguyên một câu nói về điều lành thế gian của người tu Ðại Thừa.
“Tật đố” (嫉妒) là ghen tỵ điều hay tốt của người khác; làm hại người hiền cũng gọi là “tật” (嫉). “Tham thiết” (貪餮): “thiết” (餮) là tham ăn tục uống.
Sách Ðại Thừa Nghĩa Chương giảng chữ “xan tích” (慳惜) như sau: “Tiếc rẻ cả tài lẫn pháp thì gọi là Xan”, tức là cái tâm tham đắm tài lẫn pháp, chẳng thể đem tài và pháp làm lợi cho người khác.
“Trung hối” (中悔: Giữa chừng hối hận) là lòng tin chẳng vững chắc, trước tin sau ngờ nên bảo là “trung hối”.
“Hồ nghi” là do tánh con cáo (hồ: 狐) hay nghi ngờ nên gọi là “hồ nghi”. Do dự chẳng quyết định nên gọi là “nghi” (疑). Do nghi niệm làm hại căn lành giống như gai độc nên sách Vạn Thiện Ðồng Quy Tập ghi: “Vững tín căn để nhổ gai ngờ”.
“Yếu đương hiếu thuận” (Phải nên hiếu thuận) chính là ý “hiếu dưỡng phụ mẫu” đã dạy trong Quán Kinh; đây chính là phước đầu tiên trong ba thứ phước được dạy trong kinh ấy, đó chính là một trong những chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật.
Trong cụm chữ “chí thành trung tín”, “thành” (誠) là chân tâm, chân thật chẳng dối; “chí” (至) là đến mức cùng tột nhất. Lòng thành đạt đến mức tột cùng nên bảo là “chí thành”. “Trung” (忠) là tận tâm, kiệt lực trung với nước nhà. Hai chữ trung hiếu chính là gốc của mọi mỹ đức thế gian. Chữ “tín” (信) ở đây chỉ về pháp thế gian, tức là chân thật chẳng dối.
Hai câu kinh tiếp theo đó nói về cách thức niệm Phật trong khi bận rộn.
“Đương tín Phật kinh ngữ thâm” (Hãy nên tin lời kinh Phật sâu xa): Chữ “tín” (信) ở đây lại chỉ pháp xuất thế, nghĩa là chữ Tín ở đây chỉ cho thật thể của các pháp, là tịnh đức của Tam Bảo. Tin ưa sâu xa căn lành thế gian và xuất thế gian khiến cho tâm trong lặng thì gọi là “tín”. (...)

Ảnh minh họa: "Các pháp như thế ấy, chúng sanh ở nước kia nghe âm thanh này rồi, thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng"
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta đến với phần tiếp theo trong phẩm 25, Chánh Nhân Vãng Sanh. Trong phần này, Phật nói về Phước thứ ba, phước cuối trong Tịnh Nghiệp tam phước, dĩ nhiên là sắp xếp theo Kinh này, không phải theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ. Chúng ta đọc đoạn Kinh văn này và phần Chú giải của các Ngài để hiểu được phần này. Tuy nhiên, như đã nói ở các phần trước rằng để lâm chung chắc chắn được Phật lai nghinh tiếp dẫn thì hành giả ngoài tu các phước như vậy rồi, điều cốt yếu [chánh nhân vãng sanh] là phải "thọ trì" được theo Kinh văn này, đây mới là yếu tố quyết định. Vậy trong phần này, Phật có đề cập đến yếu tố này không? Dạ vâng, dĩ nhiên là làm sao thiếu được, đó chính là chỗ "nên tin lời kinh Phật sâu xa" ["đương tín Phật kinh ngữ thâm"], rồi "Ngày đêm thường niệm, nguyện muốn vãng sanh cõi Phật thanh tịnh của A Di Ðà Phật" ["Trú dạ thường niệm, nguyện dục vãng sanh A Di Đà Phật thanh tịnh Phật quốc"]. Chỗ "nên tin lời kinh Phật sâu xa" tức là như thế nào? Đó chính là tin tưởng chẳng nghi Di Đa Bổn Nguyện [chỗ "nhược bất sanh giả bất thủ Chánh Giác"]. Còn chỗ "trú dạ thường niệm, nguyện dục vãng sanh A Di Đà Phật thanh tịnh Phật quốc" đó chính là "Nhất hướng chuyên niệm", "nguyện sanh ngã quốc". Chúng ta thấy khi nào Phật khuyên "niệm" thì sẽ nói rõ "niệm", chứ chẳng phải nói "tư duy". Như vậy là Pháp tông yếu: Tín Nguyện, Niệm Phật đã được thể hiện đầy đủ ở đây [tức "thọ trì"], bên cạnh là tu các Phước khác nhau trong Tịnh Nghiệp tam phước. Các câu chữ, văn tự này kia chúng ta có thể đọc phần chú giải để hiểu hết được tất cả nghĩa lý trong phần đoạn Kinh văn này.
Chúng ta dành chút thời gian để nói tiếp về công việc gầy dựng Tín Nguyện chân thật đầy đủ trong tu học. Như đã nói, một trong những cách đơn giản nhất để có được Tín tâm chân thật chẳng nghi đó là cứ Kinh Phật tuyên Phật thuyết ra sao thì cứ 'bê nguyên xi' vậy mà tin tưởng mà tu học theo, không thêm không bớt gì cả [chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác"]. Vậy còn chỗ "nãi chí thập niệm" thì sao? "Nãi chí thập niệm", nếu dịch sát nghĩa nhất đó là "cho đến mười niệm", hay cũng có thể "nhẫn đến mười niệm" [chứ đừng dịch thành "dẫu chỉ mười niệm"]. Tức là "cho đến [hạng Bét là] mười niệm" [cũng được vãng sanh], nghĩa là chúng sanh phát khởi Tín tâm, nguyện tâm chân thật, chẳng nghi ["chí tâm tin ưa", "dục sanh bỉ quốc"], rồi phải dùng tâm lực đó mà niệm, mà hành trì suốt cả cuộc đời còn lại, không biếng trễ ["trú dạ thường niệm", hay "nhất hướng chuyên niệm"], chứ không phải chỉ có "thập niệm" đâu. Rằng "thập niệm" này là chỉ dành cho hạng Bét, lâm chung mới bắt gặp Chánh Pháp nên chẳng còn thời gian nhiều để niệm thêm được, nên một niệm, mười niệm vẫn được Phật chấp nhận, miễn là có Tín Nguyện tâm chân thật, chẳng nghi lúc đó là được. Còn tất cả các dạng còn lại, phát tâm sớm hơn, trong đó có chúng ta đây, thì cái "thập niệm" này chỉ làm cơ sở [về Lý] để gầy dựng nên Tín tâm thôi, vì chúng sanh là bình đẳng, cho nên Phật cũng tuyên chung cho tất cả là như vậy, không thể mỗi hạng căn cơ hoàn cảnh khác nhau lại tuyên thệ mỗi cách khác nhau, không thể như vậy được. Mà một khi đã tuyên chung thì phải lấy hạng thấp nhất để ra điều kiện, thế thì tất cả các hạng còn lại đều được hưởng điều kiện y hệt như vậy, không khác. Cho nên Phật mới tuyên là "nãi chí thập niệm" ["cho đến [hạn bét, không thể niệm được hơn] mười niệm"], chứ chẳng phải Phật tuyên rằng 'chỉ cần mười niệm', hay 'chỉ đúng mười niệm' đâu. Về Lý đó là như vậy, chúng sanh bình đẳng, giống nhau, để làm cơ sở để gầy dựng Tín tâm chân thật, chẳng nghi. Còn về hành, thì cho dù Phật không đòi hỏi cụ thể là như thế nào, nhưng một khi đã có Tín Nguyện tâm chân thật thì nhất định phải "trú dạ thường niệm", hay "nhất hướng chuyên niệm" [tức niệm Phật làm chánh, tất cả còn lại đều là phụ, trợ]. Đấy, chúng ta thấy Kinh Phật dạy rất rõ ràng, chẳng thiếu sót gì cả, chứ đâu phải Phật nói niệm "thập niệm" rồi nghỉ, khỏe, lâm chung chắc chắn Phật rước đâu, dạ hoàn toàn không có chuyện đó. Cho nên nhiều người không nghiên cứu kỹ Kinh giáo, rồi cho rằng Pháp này sao vô lý, sao lại chỉ niệm mười niệm thôi mà được vãng sanh, rồi bỏ không tin cái Pháp cứu cánh viên mãn này nữa mà quay sang cái Pháp 'cứu vớt' kia, tức kiến giải thành "thập niệm" này là dành cho lúc lâm chung phải có [Pháp Biên Địa]. Bởi vậy nên nó đi từ cái sai lầm này đến cái sai lầm khác. Chúng ta đọc khắp tất cả các Kinh điển Tịnh Độ, có Kinh nào Phật thuyết rằng lâm chung phải "niệm" [một niệm, mười niệm] rồi Phật mới lai nghinh hay không? Hay chỉ là "thọ chung giai đắc vãng sanh kỳ quốc", hay "thị nhân lâm chung, tức đắc vãng sanh bỉ Phật quốc độ"...?
Cho nên, tóm lại rằng, một mặt cứ y Kinh Phật thuyết mà tin tưởng, hành trì ["nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác", "nhất hướng chuyên niệm"], một mặt chúng ta phải nương tựa vào cái Lý chân thật rằng "Phật thành Phật đến nay đã mười kiếp, hiện đang thuyết Pháp" mà có lòng tin chân thật chẳng nghi với Bổn Nguyện [rằng đã thành tựu, không thể hư dối], nên từng câu từng chữ trong Bổn Nguyện này cũng chân thật, không hư dối, cho nên xin đừng thêm bớt hay sửa đổi bất cứ gì cả, vấn đề là phải hiểu cho chính xác nghĩa lý của chúng là được, như thế sẽ chẳng thấy chỗ nào là phi lý hay khó tin gì ở đây cả. Từ đây mọi thứ đã trở nên đơn giản, cụ thể để mà "thọ trì" [Tín Nguyện, Niệm Phật] dành cho tất cả chúng ta vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 25. Vãng Sanh Chánh Nhân
Ngài Hoàng Niệm Tổ
