Chỉ cần trọn đủ lòng tín nguyện, trì danh hiệu Phật liền được cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh chính là do đức Như Lai khi mới thành Chánh Giác đã xứng theo pháp giới tánh và hết thảy các vị Pháp Thân Đại Sĩ phá vô minh chứng pháp tánh thuộc bốn mươi mốt địa vị nói ra sở chứng của đức Như Lai và Bồ Đề giác đạo tự sẵn có trong bản tánh của hết thảy chúng sanh. Do vậy, kinh Hoa Nghiêm là vua trong Tam Tạng, hết thảy các kinh đều lưu xuất từ kinh này. Hàng phàm phu và Nhị Thừa tuy cùng hiện diện trong Bồ Đề đạo tràng, rốt cuộc chẳng thấy, chẳng nghe, vì đấy chẳng phải là cảnh giới của họ! Tuy phàm phu và Nhị Thừa chẳng thấy chẳng nghe, nhưng đây quả thật là pháp luân căn bản để độ khắp trời người lẫn chúng sanh trong sáu nẻo. Vì sao vậy? Hết thảy pháp môn đều cậy vào tự lực để đoạn Hoặc chứng Chân thì mới liễu sanh tử. Còn pháp môn Niệm Phật chỉ cần trọn đủ lòng tín nguyện, trì danh hiệu Phật liền được cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Chúng sanh đời Mạt chẳng dễ gì đạt tới mức đoạn Hoặc chứng Chân, bỏ một pháp môn này thì đông đảo chúng sanh sẽ chẳng có dịp thoát khổ!
Trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh này, Thiện Tài đã viên mãn tâm Thập Tín, nghe theo lời đức Văn Thù dạy, tham học với khắp các tri thức. Thoạt đầu ở dưới tòa của ngài Đức Vân bèn nghe pháp môn Niệm Phật. Đến cuối cùng, tới chỗ Phổ Hiền Bồ Tát, đức Phổ Hiền liền dùng oai thần gia bị khiến cho sở chứng của Thiện Tài bằng với Phổ Hiền, bằng với chư Phật. Đấy gọi là Đẳng Giác Bồ Tát. Đức Phổ Hiền bèn khen ngợi công đức thù thắng nhiệm mầu của Như Lai khiến cho Thiện Tài sanh lòng vui mừng, liền đó, Ngài dạy Thiện Tài phát mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để mong viên mãn Phật quả và khuyên hết thảy các vị Pháp Thân đại sĩ trong Hoa Nghiêm hải chúng. Phàm những vị thuộc về Hoa Tạng hải chúng đều là các đại Bồ Tát thuộc những địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác v.v… mà vẫn phải hồi hướng vãng sanh Tây Phương thì mới có thể đích thân chứng được Bồ Đề giác đạo sẵn có trong cái tâm này, huống là những kẻ thấp kém hơn ư?
Pháp “thành Phật trong một đời”
Nhưng theo chương Hạ Phẩm Hạ Sanh của Quán Kinh, kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác lúc lâm chung tướng địa ngục hiện, được thiện tri thức dạy niệm Phật bèn niệm mười tiếng hoặc chỉ mấy tiếng cũng đều có thể vãng sanh Tây Phương, được dự vào phẩm cuối. Chẳng phải là kinh Hoa Nghiêm giảng về pháp “thành Phật trong một đời” mà chỗ quy tông cuối cùng lại gom về vãng sanh Tây Phương đó sao? Các tri thức Thiền - Giáo trong cõi đời há nên coi pháp môn Niệm Phật là pháp quyền biến, Tiểu Thừa, phương tiện, chẳng phải là đạo cứu cánh ư?
Sẽ chẳng đến nỗi đề cao thánh cảnh, nhưng lại cam phận phàm ngu
“Hết thảy chúng sanh đều sẵn đủ trí huệ của đức Như Lai, nhưng do vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Vô Sư Trí liền được hiện tiền”. Do nghe nghĩa này nên hết thảy phàm phu sẽ chẳng đến nỗi đề cao thánh cảnh, nhưng lại cam phận phàm ngu. Do vậy biết kinh này chính là pháp môn rốt ráo thành thủy thành chung để mười phương tam thế chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Bất luận căn tánh như thế nào đều phải nương theo đây để tu tập, nhưng chỗ thiết yếu nhất chỉ là một môn Niệm Phật. Ấy là vì “toàn thể tánh trở thành tu” nên bậc thượng thượng căn chẳng thể vượt khỏi khuôn khổ này. Do “toàn thể Sự chính là Lý” nên phường hạ hạ căn cũng có thể đạt tới được.
Dốc lòng tin tưởng Phật pháp, nghiêm túc trọn hết đạo hiếu
Kinh này chính là cội nguồn của giáo pháp trong toàn bộ Đại Tạng, là chỗ quy túc của hết thảy pháp môn. Cư sĩ Vưu Dưỡng Hòa ở Tô Châu tuy xuất thân từ gia đình phú quý, nhưng trọn chẳng có tập khí của bọn mặc quần lụa nõn, dốc lòng tin tưởng Phật pháp, nghiêm túc trọn hết đạo hiếu. Mẹ ông ta sợ con bị tập tục xoay chuyển, nên khi bị bệnh nặng sắp mất đã dặn con phải cung kính chép kinh Hoa Nghiêm để mong con được huân tập, tiêm nhiễm thành chủng tử, vĩnh viễn trở thành gốc đạo, đồng thời là để trên báo đáp Tứ Ân, dưới giúp cho Tam Hữu (Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới). Mẹ ông ta đáng gọi là “khéo dùng lòng Từ!”. Trong thời kỳ cư tang, hằng ngày ông ta cẩn thận chép kinh để mong từ mẫu được tăng cao phẩm sen và tiêu trừ ác nghiệp của bản thân. Nếu chẳng phải là đã có thiện căn từ đời trước thì làm sao như thế được?
Nay kinh đã chép xong, bèn cậy bạn phương ngoại là đại sư Văn Đào xin Quang viết lời nêu rõ ý nghĩa bộ kinh để mong sau này những ai xem đến đều cùng sanh lòng chánh tín. Trộm nghĩ: Ý nghĩa của kinh Hoa Nghiêm dẫu dùng mực nhiều như biển cả, đến tận cùng đời vị lai tuyên dương ý nghĩa của từng câu, từng chữ vẫn chẳng thể trọn hết được! Huống chi Quang là kẻ hời hợt, nông cạn, vô tri, làm sao có thể tán dương một hai điều cho được? Nhưng vẫn chẳng nên cô phụ ý ông ta nghĩ đến, do vậy bèn viết sơ lược đại ý những điều cương yếu và lợi ích để trao lại. Nếu có thể nương theo đó để tu hành thì rốt ráo thành Phật còn đạt được, huống là những văn nghĩa khác ư? (Mồng Một tháng Sáu năm Mậu Thìn, tức năm Dân Quốc 17 - 1928)

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà bằng đồng mạ vàng.
Đoạn đầu: Hết thảy pháp môn đều cậy vào tự lực để đoạn Hoặc chứng Chân thì mới liễu sanh tử. Còn pháp môn Niệm Phật chỉ cần trọn đủ lòng tín nguyện, trì danh hiệu Phật liền được cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Chúng sanh đời Mạt chẳng dễ gì đạt tới mức đoạn Hoặc chứng Chân, bỏ một pháp môn này thì đông đảo chúng sanh sẽ chẳng có dịp thoát khổ!
Đoạn Hoặc chứng Chân tức đoạn Phiền não tham sân si, cái này gọi là "đoạn" tức là đã trừ sạch, không còn, dù là mảy may, còn dạng 'điều phục' phiền não là dạng khác, tức 'kiềm chế', 'kiềm nén' lại, 'triệt tiêu' đi, không để nó 'bộc phát' ra hay 'tăng trưởng' lên, 'tồn tại' lâu. Thật sự rằng phàm phu như chúng ta chỉ mong tu tập được ở dạng sau thôi, còn dạng đầu thì chỉ mong tiêu trừ được càng nhiều càng tốt vậy thôi, chứ để diệt trừ sạch sẽ hết thì phàm phu làm không nổi đâu, bởi nếu làm được đã thoát luân hồi sanh tử từ lâu rồi, đâu còn ở đây hoài như vậy. Bởi vậy, "chúng sanh đời Mạt chẳng dễ gì đạt tới mức đoạn Hoặc chứng Chân, bỏ một pháp môn này thì đông đảo chúng sanh sẽ chẳng có dịp thoát khổ!".
"Còn pháp môn Niệm Phật chỉ cần trọn đủ lòng tín nguyện, trì danh hiệu Phật liền được cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh", thật sự với Pháp môn này về đường lối Tông chỉ tông yếu chúng ta chỉ cần nhớ hai điều để mà tu học, một là hạnh Trì Danh làm Chánh [còn lại đều là Trợ], hai là không nên hoài nghi, hãy tin tưởng lời Thề Nguyện của Phật, tức Tín Nguyện tâm đầy đủ [trong Tín tâm đầy đủ luôn có Nguyện tâm đầy đủ tha thiết trong đó]. Coi vậy chứ nhiêu đó nhiều khi học cả đời cũng chưa chắc 'vô' nổi đó chứ không chơi đâu, bởi chỉ cần 'vô' được một cái [và giữ vững] là vãng sanh ngay trong đời này. Cái khó ở đây đó là phát khởi được [Tín tâm chân thật] là một chuyện, rồi giữ vững được nó cho bền lâu, suốt đời, cái này mới khó, chứ còn một khi thâm nhập học tập Kinh giáo, thấy đúng lý đúng pháp thì đương nhiên phải tin thôi, không thể không tin được [với người tu tập nghiêm túc, chân thật], mà vấn đề ở đây là phải 'trụ vững', không bị thất thoái theo thời gian mới được. Mà muốn được vậy thì rất đơn giản thôi, cứ 'nhồi nhét' suốt vô trong đó, chứa 'đầy nhóc' trong đó, để khi đụng chuyện là nhớ như in ngay, không thể quên hay phớt lờ hay chìu thuận theo cảnh duyên thuận nghịch, theo lời nói của người này người kia được [nên mới gọi là cái Tàng thức, tức chứa đựng]. Cho nên, trong tu học, để huân tập [cái chủng tử] thì là huân tập cái này đây [tức chỗ Phật Thề Nguyện], chứ chẳng phải huân tập câu Phật hiệu đâu, nói huân tập chủng tử câu Phật hiệu cho tốt để khi cần thì 'bật ra', đó là nói kiểu Pháp Biên Địa [bởi sợ vô thường, bất chợt này kia đến thì luôn nhớ đến câu Phật hiệu, bởi rằng sợ lỡ quên câu Phật hiệu lúc đó cái thì sẽ bị 'rớt'], đây là kiến giải của Pháp Biên Địa, rằng lâm chung phải chánh niệm niệm Phật thì Phật mới lai nghinh. Còn với đường lối Pháp Tông chỉ này thì không phải như vậy, rằng chỉ cần nhớ hai điều nói trên là được, một là thường luôn nhớ niệm Phật [tinh tấn], hai là đừng hoài nghi [cái Bổn Nguyện, chỗ Phật "thề"], cứ giữ mãi như thế, là đủ, còn thì lâm chung, lúc cuối hay vô thường, bất chợt gì xảy đến không thành vấn đề, rằng lúc đó có niệm hay chẳng niệm, có nhớ hay chẳng nhớ câu Phật hiệu cũng chẳng hề gì luôn, thật sự như vậy, chẳng hề hấn gì cả, bởi Phật vẫn sẽ đến tiếp dẫn về như thường vậy thôi. Còn như ai hãy còn ngờ vực, hay 'sợ sệt' chỗ này thì hãy tiếp tục học tập, tiếp tục 'nhồi nhét' vô nữa, bởi Tín tâm như thế là chưa đủ, do 'nhồi nhét' cái chủng tử này [Tín tâm] chưa đủ sâu, cho nên mới gọi là "Tin sâu", tức Tín tâm nó phải nằm sâu thẳm bên trong [tàng thức], không cách gì làm lay động hay 'đánh bật' được nó ra, như vậy mới được. Cho nên, mới cần học tập, huân tu, kiên trì, chứ đừng tưởng học tập qua loa hay mới liễu ngộ chút chút gì đó rồi cho là đủ, dạ không bao giờ là đủ cả, trong tu học là vậy, chúng ta phải nhớ điều này, rằng tu học thì không bao giờ là đủ cả, phải học, học nữa, học mãi, nhiều khi chỉ nhiêu đó thôi nhưng cứ học hoài, lặp đi lặp lại mãi nhiêu đó, bởi vậy cần phải kiên trì suốt như vậy, không có cái hạn cuộc nào cả. Cho nên Phật mới dạy rằng "Cần tu kiên trì" là vậy, đã gọi là "kiên trì" rồi mà còn trông ngóng, mong cho nhanh cho lẹ thì sao gọi là "kiên trì" cho được, phải kiên trì suốt, kiên trì mãi như thế, rồi ắt sẽ có ngày 'được về' thôi.
Đoạn tiếp theo: Chẳng phải là kinh Hoa Nghiêm giảng về pháp “thành Phật trong một đời” mà chỗ quy tông cuối cùng lại gom về vãng sanh Tây Phương đó sao?
Vì sao gọi đây là Pháp “thành Phật trong một đời”? "Một đời" ở đây được tính là từ lúc phát tâm trở đi, tức tính từ một đời này trở đi, không còn đời nào khác nữa, sẽ tu mãi cho đến khi thành Phật đạo luôn, không còn cảnh sanh tử, tử sanh gì nữa [chỉ trừ các vị tái lai vào trong sanh tử độ sanh thì không tính]. Tức là với Pháp môn này, sẽ không có "chết", khi nào thọ mạng hết thì Phật sẽ đến rước, lúc đó thần thức sẽ theo Phật đi về Tây Phương, còn cái báo thân này sẽ được xả bỏ, để lại. Chứ có người vừa muốn vãng sanh lại vừa muốn mang cả cái thân uế trược này theo nữa đấy, chuyện này không phải không có đâu [hoặc giả chẳng muốn xa lìa, rời bỏ nó]. Rằng về đó được cái thân kim cang bất hoại, với 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp không thích hơn sao, còn phải lưu luyến cái thân ô uế này? Cho nên chúng ta thấy, với riêng Pháp môn này, thì chẳng có niệm nào là niệm cuối cùng cả đâu nhé [hay vài niệm cuối cùng], vì sao? Bởi đơn giản là có 'chết' đâu mà có niệm cuối [hay vài niệm cuối], rằng cứ 'sống' mãi cho đến khi về tới Cực Lạc luôn, rồi tiếp tục 'cuộc sống' trên đó, thật sự là như thế, và lúc cuối Phật đến rước là rước khi 'còn sống', chứ không phải tắt hơi rồi Phật mới tới rước, chúng ta phải nhận thức rõ chỗ này. Cho nên cái khái niệm 'niệm cuối cùng' [phải là A Di Đà Phật] hay lâm chung phải niệm Phật [cho đến tắt hơi] rồi Phật mới lai nghinh, đó hoàn toàn là các vị tự diễn giải như thế [theo đường lối Pháp Biên Địa], chứ thật ra với Pháp Biên Địa này thì Phật cũng đến để lai nghinh tiếp dẫn ngay trước những niệm cuối [chứ không phải xong niệm cuối Phật mới đến như các vị ấy nghĩ], dĩ nhiên về thời gian thì gấp gáp hơn nhiều, có lẽ chỉ tính bằng một vài giây, một vài niệm, chứ không được thong thả, tự tại như cái Pháp tông yếu kia. Cho nên với Tịnh Tông nói chung dù là tu theo đường lối gì đi nữa, thì vẫn là 'còn sống' [khi theo Phật], vẫn là "Pháp môn một đời" vậy, nó khác hoàn toàn với trường hợp của các Pháp thông thường khác, rằng thần thức đi theo nghiệp lực [nên phải sau khi chết, đã tắt hơi lâu mau ít nhiều gì đó], bởi, đi theo Phật nó phải khác với đi theo nghiệp lực chứ, rằng 'đánh đồng' hai cái này như nhau sao được.
Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Lời tựa cho sự việc kính cẩn chép đại kinh Hoa Nghiêm nhằm trọn hết lòng hiếu thảo
Đại Sư Ấn Quang
