Chánh kinh:
Kỳ tâm chánh trực, thiện xảo quyết định. Luận pháp vô yếm, cầu pháp bất quyện. Giới nhược lưu ly, nội ngoại minh khiết. Kỳ sở ngôn thuyết, linh chúng duyệt phục. Kích pháp cổ, kiến pháp tràng, diệu huệ nhật, phá si ám. Thuần tịnh ôn hòa, tịch định minh sát; vi đại đạo sư, điều phục tự tha, dẫn đạo quần sanh, xả chư ái trước. Vĩnh ly tam cấu, du hý thần thông.
Tâm họ chánh trực, thiện xảo quyết định, luận pháp chẳng chán, cầu pháp chẳng nhọc. Giới tợ lưu ly, trong ngoài sáng sạch. Lời lẽ nói ra khiến mọi người vui vẻ, tin phục. Ðánh trống pháp, dựng pháp tràng, chói rực mặt trời trí huệ, phá si ám. Thuần tịnh ôn hòa, tịch định, minh sát; làm đại đạo sư, điều phục cả mình lẫn người, dẫn dắt quần sanh bỏ các ái trước. Vĩnh viễn lìa khỏi ba cấu, du hý thần thông.
Giải:
Phần trên, kinh đã dẫn các thí dụ để làm sáng tỏ ý nghĩa. Phần này, kinh giảng rõ công đức chân thật của các vị Bồ Tát cõi ấy. Ðó là đức tự giác, giác tha, hoằng pháp lợi sanh.
“Chánh trực”: Chánh (正) là chẳng tà, Trực (直) là chẳng cong vạy. Kinh Tịnh Danh dạy: “Trực tâm thị đạo tràng” (Trực tâm là đạo tràng). Sách Vãng Sanh Luận Chú ghi: “Chánh trực là ngay thẳng. Do chánh trực nên sanh tâm thương xót hết thảy chúng sanh”. Phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa cũng có câu: “Ư chư Bồ Tát trung, chánh trực xả phương tiện, đản thuyết vô thượng đạo” (Ở giữa các vị Bồ Tát, chánh trực xả phương tiện, chỉ nói đạo vô thượng). Sách Pháp Hoa Văn Cú giảng câu trên như sau: “Ngũ thừa còn cong quẹo nên chưa phải là Trực. Thông Giáo, Biệt Giáo còn thiên lệch nên chẳng phải là Chánh. Nay bỏ cả sự lệch lạc lẫn cong quẹo ấy, chỉ nói một đạo Nhất Thừa chánh trực”.
Có nhiều cách hiểu “ngũ thừa”, nhưng chữ “ngũ thừa” được dùng trong sách Văn Cú có nghĩa là: Nhân Thừa, Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa.
Thông Giáo, Biệt Giáo là thiên lệch, cả năm thừa Nhân, Thiên v.v… đều cong vẹo; cho nên nhất đạo chánh trực chính là Nhất Thừa của Viên Giáo.
Vì vậy, câu “kỳ tâm chánh trực” (tâm họ chánh trực) hàm ý tâm các Bồ Tát đã xa lìa các giáo pháp lệch lạc, cong vạy, chỉ thuần là Nhất Thừa viên pháp, như cỗ xe to lớn, ngay ngắn, được trâu trắng kéo chạy vùn vụt như gió.
Phật Ðịa Luận giảng chữ “thiện xảo” như sau: “Xứng thuận cơ nghi nên gọi là thiện xảo”. Sách [Pháp Hoa] Văn Cú cũng bảo: “Hiển lộ thiện quyền phương tiện, tỏ rõ phương tiện tinh vi”. Câu trên nói đến đức giác tha, khéo quán căn cơ để dạy pháp thích hợp, hành quyền phương tiện. Câu dưới nói về tự giác: Khéo nhập quán hạnh đến mức tinh vi. Tự giác như vậy nên mới có thể dùng phương tiện giác ngộ người khác, tùy cơ ứng duyên, nên kinh khen là “thiện xảo”. (...)
“Quyết định” có nghĩa là việc đã nhất định, không thay đổi nữa. Sách Thắng Man Bảo Quật nói: “Quyết định là tín”. Như vậy thì “thiện xảo” là tùy cơ ứng duyên, “quyết định” là chân thật bất biến. “Thiện xảo quyết định” nghĩa là tùy duyên thiện xảo nhưng thảy đều chân thật.
“Luận pháp vô yếm, cầu pháp bất quyện” (Luận pháp chẳng chán, cầu pháp chẳng nhọc): Câu trên nói về giác tha, câu dưới nói đến tự giác.
Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Chuyên thích cầu pháp, tâm không chán đủ là phương tiện tự lợi… Thường muốn rộng nói, chí không mệt mỏi chính là lợi tha”.
Sách Hội Sớ lại bảo: “Bồ Tát cầu pháp là để lợi người, đắc được pháp nào ắt giảng cho người khác. Vì hết thảy chúng sanh [thuyết pháp] trải vô lượng kiếp chẳng hề chán mỏi”.
“Giới nhược lưu ly” (Giới tợ lưu ly): Giới là giới luật, tức là môn đầu tiên trong ba vô lậu học: Giới, Ðịnh, Huệ. Phụng trì giới luật trong sạch, thanh khiết để tự trang nghiêm. Trì giới khiết tịnh khác nào ngọc lưu ly. Kinh Phạm Võng nói: “Giới như minh nhật nguyệt, diệc như anh lạc châu” (Giới như nhật, nguyệt sáng, cũng như hạt châu trong chuỗi ngọc). Vì vậy, kinh mới nói: “Giới nhược lưu ly”.
“Nội ngoại minh khiết” (Trong ngoài sáng sạch): “Nội” là tâm ý, ý nghiệp thanh tịnh; khởi tâm, động niệm thảy đều lìa khỏi cấu nhiễm. “Ngoại” là oai nghi đầy đủ, đó là đức thể hiện ra bên ngoài. Trong, ngoài đều thanh khiết nên nói ra điều gì cũng khiến cho người nghe lòng vui thích, kính phục thật sự. Do đó, kinh nói: “Kỳ sở ngôn thuyết, linh chúng duyệt phục” (Lời lẽ nói ra khiến mọi người vui vẻ, tin phục). (...)
Ảnh minh họa: "Lại này Xá-lợi-phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó. Ðáy ao toàn trải cát bằng vàng. Thềm đường bốn phía do các thứ vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Bên trên có lầu có các, cũng dùng đủ loại vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não để trang sức."
[Kinh A Di Đà bằng tranh]
Chúng ta đến với phần tiếp theo trong Phẩm 31, Công Đức Chân Thật. Phần này tiếp tục nói về đạo tâm đạo lực, giới hạnh, đức hạnh của các hàng Bồ Tát nơi cõi Cực Lạc. Rằng "Tâm họ chánh trực, thiện xảo quyết định, luận pháp chẳng chán, cầu pháp chẳng nhọc". Chúng ta để ý chỗ "Tâm họ chánh trực, thiện xảo quyết định", rằng cái đầu tiên phải là "tâm họ chánh trực" đi trước cái đã, rồi mới tới "thiện xảo quyết định", vì sao vậy? Bởi nếu tâm chánh trực thì những cái gọi là "thiện xảo" đó mới đúng nghĩa là thiện xảo, tức những phương tiện, phương cách [lợi tha, vì người], nói cách khác, có những câu khác cũng có nghĩa tương tự như vậy, đó là "trước tự độ mình mới ra độ người", hay "tự độ, độ tha", hay là "lấy thân làm gốc"... đều có cái ý như vậy. Còn như tâm mình chưa giữ được [chánh trực] thì chẳng thể vận hành được các phương tiện thiện xảo, hay vận hành không đúng ngay. Chẳng hạn như tu ở cõi Ngũ dục này, chúng ta hay nói tiền tài danh lợi chỉ là 'phương tiện' không phải là mục đích [của người tu đạo, truyền đạo], cho nên nhiều khi chúng ta cũng phải biết khéo dùng cái 'dục' nào đó [trong ngũ dục, tài sắc danh thực thùy] để làm phương tiện dẫn dắt chúng sanh vào đạo, đó chính là dùng phương tiện thiện xảo để độ người vậy, nhưng quan trọng là chính họ [người truyền đạo, học đạo] phải "chánh trực" mới được, tức đã xả bỏ được các thứ đó, không còn bị lôi kéo, dẫn dắt bởi chúng nữa, như thế thì cái 'dục' đó mới được cho là phương tiện, thiện xảo, còn không thì không khéo sẽ biến thành 'tà đạo', tức dẫn dắt người ta xuống Tam đồ luôn không chừng, bởi khi đó đã biến thành mục đích thực sự rồi, chẳng còn gọi là 'phương tiện' nữa. Chúng ta thấy ở đây Phật dùng chữ "quyết định" để nói đến cái vai trò của "thiện xảo", tức ở mức cao nhất vậy. Chứng tỏ rằng, với người truyền đạo là như vậy, phải biết khế hợp căn cơ vì người diễn nói, chứ chẳng thể tùy tiện muốn nói gì nói được đâu, và điều này là "quyết định", tức việc lựa chọn cái Pháp để nói, cái cách để truyền thừa, có vai trò quyết định trong việc mang đến lợi ích chân thật cho chúng sanh vậy. Lấy một ví dụ, vì sao trên thế giới hiện nay có nhiều Tôn giáo khác nhau cùng tồn tại? Mà không phải chỉ là Phật giáo? Rằng tại sao các Ngài không tái lai hạ sanh xuống đây ở khắp năm châu để chỉ truyền thừa Phật Giáo không thôi, mà Phật Pháp chỉ tập trung chính yếu ở vùng Đông Á này [và cộng đồng người gốc Đông Á ở các nơi]? Đó chính là "thiện xảo" của các Ngài vậy, rằng nơi nào có nhân duyên thế nào thì phải thị hiện [trước tiên] như vậy cái đã, Công giáo phải thị hiện là Công giáo, Hồi giáo phải là Hồi giáo, dẫn dắt từng bước như vậy, chẳng thể đốt cháy giai đoạn được đâu. Cho nên nếu hiểu thấu thì các Tôn giáo khác nhau trên thế giới này thực ra cũng chỉ là các chi, nhánh [tức các "thiện xảo"] của Phật giáo mà thôi vậy.
Tiếp theo, "luận pháp chẳng chán, cầu pháp chẳng nhọc", đây biểu thị sự tinh tấn, gọi là 'pháp hỉ sung mãn', khác nhiều so với phàm phu. "Luận pháp" ở đây có thể hiểu là nói pháp, giảng pháp, hay thậm chí có thể là 'tranh luận' pháp [nếu cần thiết phải như thế], còn "cầu pháp" ở đây đó là học tập pháp, hành trì pháp, nghe pháp, tu tập các pháp... Bởi do làm gì cũng sanh pháp hỉ, nên họ diễn nói, họ hành trì đều chẳng biết chán, chẳng biết nhọc là vậy, tức càng thực hành càng sanh pháp hỉ, cùng 'sung' hơn nữa, cứ như vậy càng lúc càng tinh tấn hơn lên. Cái này thì hàng phàm phu chúng ta cần phải học tập, noi gương các vị ấy mới được, còn không thì việc tu học của chúng ta dễ đi vào sự nhàm chán, lui sụt lắm, rằng làm gì làm, tu gì tu phải sanh một chút gì đó 'pháp hỉ' mới được. Muốn vậy thì cần phải có sự nổ lực, cố gắng, kiên trì, không ngừng nghỉ, bởi không có gì tự nhiên mà có được đâu, cũng đừng nôn nóng, phải từ từ, chậm chắc từng bước, từng giai đoạn, nói chung cần phải có thời gian, công sức, cùng cái pháp, cái cách thức hành trì dụng công cho phù hợp căn cơ hoàn cảnh mình nữa mới được.
Đoạn tiếp, "Giới tợ lưu ly, trong ngoài sáng sạch". Rằng Giới Luật là nền tảng trong tu học. Với các vị ấy thì "Giới tợ lưu ly, trong ngoài sáng sạch", tức chẳng còn chút 'nhiễm ô' nào nữa cả, 'trong suốt' như lưu ly, rằng chẳng phạm bất cứ thứ gì, dù là vi tế nhất. Dĩ nhiên rằng, ở cảnh giới trên đó, với y báo chánh báo trợ duyên trợ lực, thì đạt được điều đó coi như là hiển nhiên vậy, không có gì gọi là đặc biệt với hàng Bồ Tát trên đó. Còn chúng ta phàm phu đang trong Ngũ trược, uế độ này thì gìn giữ giới luật sao cho càng nhiều càng tốt vậy, nói cách khác là tránh phạm giới càng ít càng tốt, vậy thôi, chỉ có thể nói như vậy, chứ như nói cao quá mà chính mình [cũng như người] chẳng làm được thì thành ra vọng ngữ mất [lại thành ra 'phạm giới' ngay khi nói ra đó luôn]. Giới luật càng vững chắc thì giống như cái cây có gốc rễ ăn sâu bám mạnh vào lòng đất, như thế thì dù phong ba bão tố gì cũng chẳng quật ngã được nó, tức đường đạo của chúng ta càng vững chãi và mới sinh trưởng phát triển mạnh được, khả năng thành tựu cao mới được vậy. Các phần còn lại chúng ta cùng đọc chú giải của các Ngài để hiểu rõ hơn.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 31. Chân Thật Công Đức
Ngài Hoàng Niệm Tổ
