Chánh kinh:
Phục thứ A Nan! Bỉ Phật sát trung, nhất thiết Bồ Tát thiền định, trí huệ, thần thông oai đức, vô bất viên mãn. Chư Phật mật tạng, cứu cánh minh liễu, điều phục chư căn, thân tâm nhu nhuyễn, thâm nhập chánh huệ, vô phục dư tập. Y Phật sở hành, thất giác thánh đạo. Tu hành ngũ nhãn, chiếu Chân đạt Tục. Nhục nhãn giản trạch, thiên nhãn thông đạt, pháp nhãn thanh tịnh, huệ nhãn kiến chân, Phật nhãn cụ túc, giác liễu pháp tánh.
Lại này A Nan! Thiền định, trí huệ, thần thông, oai đức của hết thảy Bồ Tát trong cõi Phật kia không thứ gì chẳng viên mãn. Họ đều hiểu rõ rốt ráo mật tạng của chư Phật, điều phục các căn, thân tâm nhu nhuyễn, thâm nhập chánh huệ, chẳng còn sót các tập khí. Nương theo Thất Giác, Thánh Ðạo mà đức Phật đã hành, tu hành ngũ nhãn, chiếu Chân, hiểu Tục. Nhục nhãn phân biệt, chọn lựa, thiên nhãn thông đạt, pháp nhãn thanh tịnh, huệ nhãn thấy Chân, Phật nhãn đầy đủ, giác ngộ trọn vẹn pháp tánh.
Giải:
Phẩm này nói về đại hạnh của các Bồ Tát cõi ấy, gồm có ba loại chính:
1. Hạnh đức tự lợi.
2. Hạnh đức lợi tha.
3. Hạnh đức viên mãn.
Ðoạn kinh văn trên đây nói đến hạnh đức tự lợi của bậc Đại Sĩ.
“Thiền Định, trí huệ”: Thiền Ðịnh là độ thứ năm trong Lục Ðộ, Trí Huệ là độ thứ sáu. Trong Lục Ðộ, hai độ này đóng vai trò quan trọng nhất nên được nêu lên trước hết. Hơn nữa, phải vâng giữ cân bằng cả Ðịnh lẫn Huệ như sách Hội Sớ viết: “Nếu chỉ có Ðịnh mà thiếu Huệ thì khác gì Nhị Thừa trầm trệ nơi Không. Có Huệ nhưng thiếu Ðịnh thì khác nào ngoại đạo nghĩ tưởng xằng bậy. Do đó, kinh luôn nói Ðịnh đi đôi với Huệ”.
“Thần thông” là Lục Thông, tức Thiên Nhãn, Thiên Nhĩ… “Oai” (威) là oai thần, nghĩa là oai thế dũng mãnh, không lường biết nổi. “Ðức” (德) là công đức như bản Ngụy dịch ghi: “Vô Lượng Thọ Phật oai thần công đức bất khả tư nghị” (Vô Lượng Thọ Phật oai thần công đức chẳng thể nghĩ bàn). Các vị Bồ Tát trong cõi Cực Lạc đều thành tựu viên mãn hết thảy các thứ Thiền Ðịnh, thần thông, trí huệ như trên nên kinh mới nói: “Vô bất viên mãn” (Không thứ gì chẳng viên mãn).
Sách Nhị Giáo Luận, quyển thượng giảng chữ “mật tạng” (密藏) như sau: “Những lời giảng của Pháp Thân Phật thì gọi là ‘mật tạng’, ý nói [đó là] những lời nói sâu xa, bí mật, chân thật”; nghĩa là: Những lời chân thật, sâu xa, uyên áo, huyền diệu do Pháp Thân Như Lai nói ra thì gọi là “mật tạng”.
Sách Tăng Sử Lược lại bảo:
“Mật tạng là pháp đà-ra-ni. Pháp ấy bí mật, chẳng phải là cảnh giới của Nhị Thừa, chỉ có chư Phật, Bồ Tát mới có thể dạo bước trong đó nổi”; ý nói: Mật tạng chính là đà-ra-ni. Giáo pháp ấy bí mật chẳng phải là giáo pháp dành cho hàng Nhị Thừa, chỉ có chư Phật, Bồ Tát mới có thể thấu hiểu, mới thực hành nổi.
Ðối với điều kinh dạy: Hàng đại sĩ cõi Cực Lạc “chư Phật mật tạng, cứu cánh minh liễu” (hiểu rõ rốt ráo mật tạng của chư Phật); ta có thể tổng hợp hai thuyết trên để hiểu là: Đối với những mật ý bí áo sâu xa vượt ngoài ngôn ngữ, các giáo pháp khó suy tưởng nổi và các đà-ra-ni của Pháp Thân Như Lai, các bậc đại sĩ cõi ấy đều có thể lãnh hội một cách rốt ráo, hiểu thấu trọn vẹn thông suốt.
Chữ “điều phục” được sách Thám Huyền Ký giảng như sau: “Điều (調) là điều hòa, ‘phục’ (伏) là chế phục; nghĩa là điều hòa, kiềm chế nghiệp thân, khẩu, ý, dẹp yên, trừ diệt các ác hạnh”. Ý nói: Giữ yên tịnh, chế ngự được ba nghiệp, xa lìa được ác hạnh. “Chư căn” là sáu căn: tai, mắt… “Ðiều phục chư căn” là chế ngự thân tâm, xa rời trần cấu, tà ác.
“Nhu nhuyễn” (柔軟) là tâm nhu hòa, tùy thuận đạo. Nếu chẳng như vậy thì là ương ngạnh, hễ ương ngạnh sẽ khó lòng giáo hóa. Kinh Pháp Hoa nói: “Chúng sanh ký tín phục, ý chất trực, nhu nhuyễn” (Chúng sanh đã tin phục, chất trực, ý mềm mại). Ðó chính là “thân tâm nhu nhuyễn”.
“Chánh huệ” (正慧) là trí huệ chân chánh. “Chân” (真) là chân thật; “chánh” (正) là không tà, lìa điên đảo là Chánh. Khế chân nhập thật cũng là Chánh. Vậy thì lìa khỏi phân biệt hư vọng, soi tỏ trí huệ nơi chân tâm thì gọi là “chánh huệ”. (...)

Ảnh minh họa: "Chúng sanh ở cõi ấy, cứ mỗi sáng sớm, thường dùng đãi y, đựng các hoa đẹp, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, vừa đến giờ ăn, trở về nước mình, ăn cơm, kinh hành."
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta đến với Phẩm 30, Bồ Tát tu trì. Trong phần đoạn Kinh văn này Phật nói về thần thông, oai đức, trí huệ của Bồ Tát nơi cõi ấy, rằng "vô bất viên mãn" [không thứ gì chẳng viên mãn]. Chúng ta đọc phần chú giải của các Ngài [rất dài] để hiểu rõ hơn về nghĩa lý, văn tự của đoạn Kinh văn này. Có điều rằng, chúng ta đọc rồi đừng thấy 'khớp' nha, nói sao các vị ấy ở cảnh giới cao tột quá, còn chùng ta đây sao còn phàm phu quá, vậy sao có thể về đó được để cùng câu hội tại một nơi được. Vấn đề nói chung là ở đâu cũng vậy thôi, cũng có thứ bậc cao thấp khác nhau cả, người đi trước kẻ đi sau, không phải ai cũng như ai cả đâu. Chẳng hạn, dạng phàm phu mới được sanh về thì chắc phải ở trong hoa sen một thời gian, khi nào 'hoa khai kiến Phật, ngộ vô sanh', thì mới 'Bất thoái Bồ tát vi bạn lữ' được, tức là mới được tự do tự tại ở chung với hàng Bồ Tát, vì lúc đó cảnh giới đã siêu phàm nhập thánh rồi [tức đắc A La Hán], còn khi nào tâm chưa tương ưng cảnh giới đó thì cứ ở lại trong hoa sen tu tập cho đến khi đắc 'vô lậu hoặc' thì sẽ được ra thôi. Cho nên không việc gì phải lo ngại cả, mà cái quan trọng là làm sao để về được đó, cái này mới là cái chính yếu của chúng ta vậy. Với lại ở đây Phật đang nói cho cảnh giới Bồ Tát ở cõi ấy, tức là các vị đã về đó lâu rồi, tu trì đã lên mức hàng Bồ Tát, chứ không phải vị nào cũng như vậy, bởi các hạng bên dưới còn có Thanh Văn, Trời , Người... nhiều lắm. Chúng ta quen gọi các vị đã được vãng sanh là Bồ Tát bất thoái, thật ra là đúng chỗ Bất thoái chuyển thôi, còn nói Bồ tát là cho thì tương lai, chứ không phải ai về đó cũng thành Bồ Tát ngay đâu, mà rằng về đó tu tập lâu ngày chầy tháng sẽ thành Bồ tát bất thoái chuyển hết cả, rồi thành Nhất sanh bổ sứ, rồi thành Phật. Đây là con đường đạo chung nhất cho tất cả chúng sanh được sanh về đó, nhưng là cả một quá trình dài lâu, nhanh chậm dài ngắn khác biệt, chẳng ai giống ai cả, tùy năng lực cùng điểm xuất phát của từng vị mà thôi.
Nói về Kinh văn chút vậy, chúng ta cùng tiếp tục nói về tu trì, gầy dựng Tín Nguyện tâm trong tu học. Thật sự trong tu học vì sao chúng ta hay nhấn mạnh chỗ phải kiến giải Kinh văn cho chuẩn xác, nhất là nội dung của Di Đà Bổn Nguyện [tức Đại Nguyện thứ 18]? Bởi đơn giản rằng nếu kiến giải sai, không đúng với nghĩa lý [nó vốn phải như thế] thì cái tâm tưởng chúng ta cũng sai lệch theo ngay, tức tâm bị vướng vào 'tà kiến' [mà làm mất đi Tín tâm chân thật]. Vậy hiểu thế nào là "tà kiến" [như Phật nói trong Kinh]? "Tà kiến" đó là những kiến giải [tức hiểu] lời Kinh Phật thuyết không đúng [với ý Phật muốn nói], gọi đó chính là "tà kiến". Cho nên, bất luận [việc hiểu sai lệch này] có tác hại ra sao, nhiều ít thế nào, không cần biết, chỉ cần thấy một câu chữ, một đoạn trong Kinh văn được hiểu không đúng [bản chất của nó] thì gọi đó là tà kiến, tức kiến giải không đúng. Mà dạng này thường hay bị 'dôi chữ' ra, tức là kiến giải một hồi là bị dư thừa câu chữ trong Kinh văn ra, tức từ ngữ đó có cũng như không có [hiện diện], hoàn toàn không thay đổi về ngữ nghĩa của văn tự Kinh giáo [hiểu theo nghĩa đó], cho nên kiến giải một hồi là 'tự nhiên' lược bỏ bớt câu chữ của Kinh giáo hồi nào không hay. Đây có thể nói là 'đặc trưng', tức rất thường thấy ở những kiến giải sai lệch, không đúng [ý Phật] vậy. Chứ còn việc thêm từ ngữ, câu chữ vào trong quà trình liễu nghĩa Kinh giáo thì thường phải như vậy thôi, bởi do Kinh giáo nhiều khi chỉ một câu chữ ngắn gọn, nhưng do phải giải thích rộng ra [liễu nghĩa] thì đương nhiên phải nói nhiều, diễn giải nhiều hơn, mới rõ ý, rõ nghĩa, nên đó là việc gần như bắt buộc trong việc liễu giải nghĩa lý Kinh văn. Chẳng hạn, việc chú giải một phần đoạn Kinh văn này thôi các Ngài đã liễu giải ra gồm nhiều trang [10 trang] mới xong cho một phần chú giải của đoạn Kinh văn này. Tuy nhiên rằng, thà thêm chữ nghĩa như vậy [cho rõ nghĩa lý] thì được, gần như bắt buộc phải làm thế, còn việc 'bớt' chữ lại là một chuyện khác hẳn, rằng Kinh giáo Phật thuyết ra không có chuyện thừa chữ [để ngắt bỏ], hoàn toàn không. Đó chẳng qua là do chúng ta hiểu chưa tới hay hiểu không đúng [tức bị sai lệch] mà thành ra như vậy thôi, đặc biệt là những chỗ trọng yếu, Tông chỉ, chỉ cần một chỗ hơi 'tối nghĩa' [tức không nhìn ra rõ được cái nghĩa của nó, rồi xem nó không quan trọng, có cũng như không có] như thế thì rất nguy hiểm, phải gấp gấp xem lại việc kiến giải của mình, chắc chắn rằng có vấn đề lớn trong đó. Như trong Bổn Nguyện, chỗ "nãi chí thập niệm" [cho đến mười niệm], nếu chúng ta hiểu rằng đó là mười niệm dành cho lúc cuối cùng bắt buộc phải có [thì Phật mới đến tiếp dẫn], nếu liễu nghĩa kiễu như vậy thì chắc chắn bị dư thửa chỗ "nãi chí" [cho đến, nhẫn đến], bởi rõ ràng về nghĩa lý, nó 'đứng' đó hoàn toàn vô vị, không có một chút tác dụng gì cả, tức có cũng như không [nên các quý ngài kiến giải kiểu này cứ là mạnh dạn 'ngắt bỏ' nó, không thương tiếc]. Cái này thì chúng ta đã nói rất kỹ trong các bài trước rồi, ở đây không đi sâu lại nữa. Các quý Ngài trong lúc liễu giải chỗ này [cũng là chỗ trọng yếu, Tông chỉ Pháp môn] nói rằng đó là mười niệm dành cho lúc lâm chung phải có, rằng thôi thêm vào câu từ [tức chữ 'lâm chung'] để cho sáng tỏ vấn đề, đây là việc phải làm trong quá trình liễu nghĩa, cho nên không cần bàn chỗ này, nhưng nếu hiểu như thế thì chữ "nãi chí" này phải hiểu như thế nào đây? Dạ đừng có nói [chỗ này] là Phật muốn khuyên chúng sanh rằng mặc dù chỉ cần mười niệm cuối nhưng muốn có mười niệm này thì trước đó phải niệm 'chạy đà' trước [tức "cho đến"], như thế thì mới có được thập niệm cuối này. Dạ không dám, đây là [Phật] đang nói về nghĩa lý [tức cái Pháp để hành trì], chứ không phải [Phật] đang chỉ cách hành trì, hay công phu như thế nào, chúng ta phải phân biệt rõ chỗ này, bởi sẽ có rất rất nhiều người hiểu như thế đấy. Chẳng hạn nếu thế, khi nói về Pháp [để tu trì], ở đây Phật chỉ cần nói "thập niệm" [cuối cùng], thế là đủ, còn trong quá trình thực hành, để có được "thập niệm" [cuối cùng] này thì đương nhiên chúng sanh sẽ tự biết rằng thường ngày phải hành trì, huân tu không ngừng nghỉ, rồi tới giai đoạn cuối, lúc lâm chung cũng phải niệm liên tục cho đến mười niệm cuối rồi dứt hơi, nói chung về mặt hành trì thì chúng sanh tự phải biết cách để thực hành [sao cho đạt cái Pháp đó], tùy theo hoàn cảnh nhân duyên của mình. Cho nên, nếu hiểu như thế, một khi [Phật] nói về Pháp tu, thì chữ "nãi chí" này hoàn toàn 'tối nghĩa', tức không có tác dụng, có cũng như không, tức bị dư thừa ra vậy. Chúng ta nói rõ chỗ này để thấy rằng việc kiến giải như thế là hoàn toàn không đúng [ý Phật] ở đây rồi, tức kiến giải đã bị sai lệch. Còn chuyện quý ngài có tin hay không đó là chuyện của quý ngài, chứ không phải cứ không tin hay không chịu tin rồi kiến giải sai lệch thêm bớt ra như thế, nhất là dạng giảng Kinh thuyết Pháp, hoằng dương Pháp môn hay thường đi khai thị cho người ta, như thế lại càng không nên. Còn như muốn theo đuổi và hoằng truyền Pháp Biên Địa thì phải nói rõ đây là Pháp Biên Địa, cũng lấy từ Kinh giáo Phật thuyết ra [Phẩm Biên Địa Nghi Thành], cái nào phải nói rõ ràng ra cái đó, không được nhập nhằng, lấy cái này đem 'cắm' qua cái kia như vậy được.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 30. Bồ Tát Tu Trì
Ngài Hoàng Niệm Tổ
