Thọ Lượng Của Các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời, Người Cũng Giống Như Thế, Chẳng Thể Dùng Toán Số, Thí Dụ Để Biết Được Nổi

NPSTD7

 

Thọ Lượng Của Các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời, Người Cũng Giống Như Thế, Chẳng Thể Dùng Toán Số, Thí Dụ Để Biết Được Nổi

Chánh kinh:
Ngã đệ tử trung, Đại Mục Kiền Liên, thần thông đệ nhất. Tam thiên đại thiên thế giới, sở hữu nhất thiết tinh tú, chúng sanh, ư nhất trú dạ, tất tri kỳ số.
Trong các đệ tử của ta, Ðại Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất: Đối với tất cả hết thảy tinh tú và chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới, ông ta có thể trong một ngày một đêm biết trọn số đó.

Giải:
Trong đoạn văn trên chỉ nói đến công đức của mình ngài Mục Kiền Liên để làm thí dụ. Việc biết được số lượng tinh tú chỉ thấy ghi trong hai bản Hán dịch và Ngô dịch; bản Hán dịch ghi là: “Ma Ha Mục Kiền Liên phi hành tứ thiên hạ. Nhất nhật, nhất dạ, biến số tinh, tri hữu kỷ mai dã” (Ma Ha Mục Kiền Liên bay trong tứ thiên hạ, trong một ngày một đêm đếm hết số ngôi sao, biết là có bao nhiêu ngôi).


Chánh kinh:
Giả sử thập phương chúng sanh, tất thành Duyên Giác. Nhất nhất Duyên Giác, thọ vạn ức tuế, thần thông giai như Đại Mục Kiền Liên, tận kỳ thọ mạng, kiệt kỳ trí lực, tất cộng thôi toán, bỉ Phật hội trung Thanh Văn chi số, thiên vạn phần trung bất cập nhất phần.
Giả sử chúng sanh trong mười phương đều thành Duyên Giác. Mỗi vị Duyên Giác thọ vạn ức năm, thần thông đều như Ðại Mục Kiền Liên, suốt cả cuộc đời vắt kiệt trí lực, cùng nhau tính toán chẳng thể tính nổi một phần ngàn vạn số lượng Thanh Văn trong hội đức Phật ấy.
Giải:
Ðoạn văn này kể rõ Thanh Văn nhiều vô số. Ngài Mục Liên là bậc thần thông đệ nhất. Dẫu cho mười phương chúng sanh đều đắc thần thông giống hệt như ngài Mục Liên, dùng trọn cả cuộc đời mình dốc cạn trí lực, hợp nhau tính toán số lượng thánh chúng trong cõi Cực Lạc thì những điều họ biết được chẳng thể bằng nổi một phần ngàn vạn số lượng thánh chúng trong cõi ấy.


Chánh kinh:
Thí như đại hải, thâm quảng vô biên, thiết thủ nhất mao, tích vi bách phần, toái như vi trần. Dĩ nhất mao trần, triêm hải nhất trích, thử mao trần thủy, tỷ hải thục đa?
A Nan! Bỉ Mục Kiền Liên đẳng sở tri số giả, như mao trần thủy. Sở vị tri giả, như đại hải thủy.

Ví như đại hải sâu rộng vô biên. Nếu lấy một sợi lông chẻ thành trăm phần, nghiền nát như vi trần. Ðem mảnh bụi lông ấy chấm lấy một giọt nước biển thì nước dính vào mảnh lông ấy so với biển cả, cái nào là nhiều?
Này A Nan! Con số mà những người như Mục Kiền Liên biết được thì như nước dính nơi mảnh lông, số họ chưa biết như nước biển cả.
Giải:
“Nhất mao” (một sợi lông) đã rất nhỏ bé, lại còn tách ra thành trăm phần thì lại càng nhỏ tí hơn nữa; “như vi trần” lại càng cực nhỏ. Ðem lượng nước dính vào mảnh bụi lông ấy để ví cho con số đã biết; dùng con số chẳng biết như nước biển cả để ví thánh chúng cõi kia, con số ấy thật là vô lượng.


Chánh kinh:
Bỉ Phật thọ lượng, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn, thiên nhân thọ lượng diệc nhĩ, phi dĩ toán kế thí dụ chi sở năng tri.
Thọ lượng của đức Phật ấy và thọ lượng của các Bồ Tát, Thanh Văn, trời, người cũng giống như thế, chẳng thể dùng toán số, thí dụ để biết được nổi.
Giải:
Ðoạn này kết hợp cả chủ lẫn bạn: Giáo chủ thọ mạng vô lượng, hết thảy đại chúng trong nước cũng đều thọ mạng vô lượng giống như Phật. Di Ðà đại ân đức vi diệu khó nghĩ nổi. Kẻ ôm nghiệp đi vãng sanh (đới nghiệp vãng sanh) một phen đã sanh về cõi kia thì chẳng bị thoái chuyển nữa, thọ mạng cũng lại vô lượng. Do vậy, trong cõi ấy ai cũng có thể trong một đời sẽ kế vị thành Phật chứng cực quả. Cõi Sa Bà này đã lắm duyên thoái chuyển, thọ mạng bất quá trăm năm nên trong đời Mạt Pháp, ức vạn người tu hành mấy kẻ đắc đạo!
Sách Vãng Sanh Luận có bài kệ như sau: “Chánh giác A Di Ðà, pháp vương khéo trụ trì”. Phật thọ vô lượng nên giáo hóa đại chúng vô lượng. Những người được Ngài giáo hóa đều là Bổ Xứ Bồ Tát nên bảo là “khéo trụ trì”.
Sách còn ghi bài kệ sau: “Như Lai tịnh hoa chúng, chánh giác hoa hóa sanh”, nghĩa là: Chúng hội ấy đều hóa sanh trong hoa sen thanh tịnh của cõi A Di Ðà Phật “đều từ biển trí huệ thanh tịnh của Như Lai sanh ra”, cũng đều sanh ra từ tự tâm của A Di Ðà Phật. Vì vậy, nhân dân cõi nước ấy bình đẳng với Phật, thọ mạng cũng đều vô lượng, Nhất Sanh Bổ Xứ; đủ thấy cõi Cực Lạc chủ lẫn bạn đều trang nghiêm, công đức thành tựu.

fff111559

Ảnh minh họa: "Xá Lợi Phất, vì sao cõi đó tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi nước đó không có những sự khổ, chỉ thọ hưởng các điều vui, nên cõi đó tên là Cực Lạc"

(Kinh A Di Đà bằng tranh)

Chúng ta tiếp tục với đoạn Kinh văn tiếp theo trong Phẩm 13, Thọ Chúng Vô Lượng, tức là thọ mạng của Phật và của Đại chúng vô lượng, và số lượng Đại chúng cũng vô lượng. Trong phân đoạn này nói về hai mục còn lại, đó là thọ mạng và số lượng của Đại chúng trên cõi ấy đều vô lượng, vô cùng tận "chẳng thể dùng toán số, thí dụ để biết được nổi".

Trong đoạn Kinh văn trên, Đức Phật Ngài dùng Đại Mục Kiền Liên, thần thông đệ nhất, để thí dụ so sánh về các cái 'vô lượng vô biên' kia. Trước hết là số lượng chúng sanh ở đó, bao gồm: Trời, người, Bồ Tát, Thanh Văn ở trên đó, hết thảy đều vô lượng, không thể dùng toán số của cõi này để tính đếm được. "Ðại Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất: Đối với tất cả hết thảy tinh tú và chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới, ông ta có thể trong một ngày một đêm biết trọn số đó", chúng ta thử phân tích một chút xem thần thông của Ngài Mục Kiền Liên 'thù thắng' đến mức nào! Chẳng hạn, Thái dương hệ này của chúng ta bao gồm Mặt trời cùng các hành tinh quay chung quanh, gồm Trái Đất cùng các Sao Hỏa, sao Mộc, sao Thủy, sao Kim... Thái dương hệ này, tức một ngôi sao, rộng khoảng 20 tỉ km, và ngôi sao gần nhất cách khoảng 4,2 năm ánh sáng. Một tam thiên đại thiên thế giới gồm ba thứ bậc Tiểu thế giới, Trung thế giới, Đại thế giới, mỗi thứ bậc gấp một nghìn lần lên, như vậy một Đại thiên thế giới [cách gọi tắt của Tam thiên đại thiên thế giới] có khoảng một triệu ngôi sao như vậy, tức một triệu thái dương hệ. Đó là cách ước tính chung, còn cụ thể lớn nhỏ nhiều ít thì tùy, cần phải 'tính đếm' mới biết được. Như Ngài Mục Kiền Liên nếu vận dụng hết 'công lực' trong một ngày đêm thì có thể tính đếm nổi số lượng ngôi sao cũng như chúng sanh trong Tam thiên đại thiên thế giới này, tức là ước tính khoảng cách sơ sơ cũng không dưới bốn triệu năm ánh sáng, nếu tính ra km khoảng 40 tỉ tỉ km. Trong một ngày đêm Đại Mục Kiền Liên có thể tính đếm được số lượng vì tinh tú cũng như tất cả số lượng chúng sanh trong một khoảng không gian bao nhiêu đó. Một con số phải nói không hề nhỏ chút nào!

Thế nhưng theo Kinh Phật nói, nếu tất cả chúng sanh trong mười phương đều có thần thông như Ngài Mục Kiền Liên, lại ví như thọ mạng họ là vạn ức năm như bậc Duyên Giác [chứ không phải chỉ như Ngài Mục Kiền Liên], rồi tất đều "suốt cả cuộc đời vắt kiệt trí lực, cùng nhau tính toán", thì "chẳng thể tính nổi một phần ngàn vạn số lượng Thanh Văn trong hội đức Phật ấy". Ngài Mục Kiền Liên trong một ngày đêm 'vắt kiệt sức' thì tính đếm được số lượng tinh tú và chúng sanh trong một Tam thiên đại thiên, vậy trong thời gian vạn ức năm là bao nhiêu? Rồi mười phương chúng sanh là bao nhiêu chúng sanh? "Cùng nhau tính toán" tức cứ thế mà nhân lên... Như thế mà "chẳng thể tính nổi một phần ngàn vạn số lượng Thanh Văn trong hội đức Phật ấy". Đủ thấy số lượng Thanh Văn [và cả Trời, Người, Bồ Tát] ở trên đó kinh khủng thế nào, nói chung là "vô lượng", không thể dùng toán số thế gian mà biết được. 

Đoạn Kinh văn tiếp theo Đức Phật ngài dùng một thí dụ khác để nói về "thọ lượng" của Phật cũng như của Bồ Tát, Thanh văn, Trời, Người nơi cõi ấy, cũng vô lượng vô biên, không thể tính đếm được. Thọ lượng ở đây vô lượng có nghĩa thời gian lâu dài và cả sự khác biệt phong phú không thể ước lượng trước được, dài ngắn có thể khác nhau tùy mức độ tu tập của chúng sanh ở đó, mãi cho đến khi thành tựu Phật quả mới thôi. Cho nên nói Pháp môn một đời thành Phật đó tức là 'một đời' này kéo dài từ lúc còn ở các quốc độ khác nhau vân tập về Cực Lạc rồi ở đó tu tập tích lũy công đức này kia, nâng cao dần Phẩm vị cảnh giới, mãi cho tới khi thành Phật luôn, kể cả suốt trong quảng thời gian này có đi đến các quốc độ khác để độ sanh [gọi là Bồ Tát tái lai] đi nữa thì họ cũng chẳng bao giờ bị 'chết' cả. Tức là sao? Tức là gần 'ra đi' là Phật cùng Thánh chúng lại đến rước họ trở về lại cố hương [quê nhà] của họ vậy. Thế cho nên mới có cụm từ 'cố hương', 'quê hương', 'trở về nhà'... để chỉ cho các vị [tái lai] ấy vậy. Tức là họ từ trên ấy đến các quốc độ khác nhau để giáo hóa độ sanh gì đó xong hết một đời hay một quãng thời gian nào đó rồi lại trở về 'cố quốc' của mình vậy, tiếp tục tu tập, rồi lại tiếp tục đi 'độ sanh' v.v...

Chứ chẳng phải nói mỗi chúng sanh trong Mười phương pháp giới này vốn là từ Cực Lạc rồi bị 'trôi dạt' đi khắp muôn phương, rồi mê lầm đến nỗi quên cả lối về, rồi bị đọa lạc khổ đau trong sanh tử mãi không biết đường ra luôn, rồi may mắn gặp được Pháp môn Tịnh Độ, tu tập rồi được cứu thoát được trở về lại 'quê hương cố quốc'. Dạ không phải như vậy đâu ạ, từ 'cố hương' này chỉ để dành cho các bậc trên đó 'tái lai' xuống các cõi nước khác để độ sanh thôi. Cho nên như phàm phu chúng ta đây là chưa bao giờ được về đó đâu, còn một khi đã về đó rồi mà muốn trở lại độ sanh thì sẽ không bao giời bị thoái chuyển bị đọa lạc hay bị 'chết' gì nữa cả. Bởi vậy chúng ta dùng từ 'quê hương Cực Lạc' thật ra cũng không chuẩn xác lắm, bởi với phàm phu chúng ta đây đã về đó lần nào đâu mà gọi là 'quê nhà' hay 'quê hương' gì đó. Với các Ngài thì đúng, các Ngài là các vị từ trên đó xuống đây độ sanh thì đương nhiên hết một đời lại trở về lại, như thế thì đúng là trở về 'nhà' rồi còn gì. Còn phàm phu chúng ta thì 'nhà cửa' là ở đâu? Dạ vâng, nó vốn dĩ chính là... Tam đồ đấy ạ, thật sự là như vậy, còn Trời người chỉ là quán trọ. Nơi nào thường trú lâu bền mới là 'nhà', còn dạng ít hơn, dạng thỉnh thoảng thì gọi là 'khách vãng lai' hay quán trọ vậy. Bởi vậy chúng ta hiểu rằng, từ khi Đức Phật thành tựu viên mãn các lời Thệ Nguyện của mình rồi thành Phật [đến nay đã mười kiếp], thì khi ấy Pháp môn Tịnh Độ mới được ra đời, Thế giới Cực Lạc mới được kiến tạo nên một cách viên mãn, rồi chúng sanh khắp thập phương vâng theo lời chỉ dạy của các Đức Thế Tôn tu tập rồi được tiếp dẫn về Cực Lạc, và số lượng chúng sanh ở đó đến nay đã là vô lượng vô biên rồi, chưa kể số lượng đã thành tựu Phật quả cũng vô lượng vô biên. Còn như trước thời gian này, tức khi Phật A Di Đà chưa thành tựu Phật quả, và Pháp môn Tịnh Độ chưa ra đời, thì chúng sanh trong khắp Pháp giới có thể tu tập theo các Pháp môn khác vậy, rồi cũng đã có vô số vị đã thành tựu Phật quả, chẳng hạn như Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai trong Kinh nói, khi đó Bồ Tát Pháp Tạng phát Đại Thệ Nguyện trước Ngài như vậy. Cho nên có những kiến giải nói là 'tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật' rồi nhưng bị mê lầm đánh mất tự tánh làm Phật rồi mới bị trầm luân khắp chốn như vậy, hay là từ 'một ý niệm sai lầm' mà biến hiện ra Mười phương pháp giới bao gồm tất cả các cảnh giới này kia,... thật ra đó đều là không chính xác đâu nhé! Chúng sanh có tự tánh làm Phật giống y như Phật, bất kể chúng sanh nào cũng đều có tự tánh như vậy, không khác gì Như Lai, chỉ vậy thôi, chứ không phải chúng sanh 'vốn dĩ là Phật' đâu, mà chính xác thì phải như Kinh nói "chúng sanh là Phật sẽ thành" thôi. Chứ nếu 'vốn dĩ là Phật' rồi thì làm sao còn bị thoái chuyển này kia cho được, hoặc giả nếu chúng sanh vốn 'xuất xứ' từ Cực Lạc [nay trở về lại 'cố hương'] thì làm sao còn bị thoái chuyển đọa lạc khổ đau nữa. Bởi chúng ta biết, nhân dân cõi ấy dù có đi độ sanh muôn nơi cũng không bao giờ bị thoái chuyển đọa lạc trong sanh tử nữa. Một khi đã về được cõi ấy, đã liễu thoát sanh tử rồi thì là liễu thoát vĩnh viễn, dù có 'tái lai' cũng chỉ nhất thời, tùy nguyện độ sanh, rồi cũng rời khỏi sanh tử ngay, không có chuyện trầm luân trôi nổi nữa.

Bởi vậy, chúng ta cũng đừng nên 'thần thánh hóa' này kia cái tự tánh [làm Phật] của mỗi chúng sanh, bởi nếu không có Tịnh Độ hay không gặp được Tịnh Độ thì rất khó để chúng sanh trở lại với tự tánh này, nói chính xác hơn là hiển lộ ra được hoàn toàn tự tánh này, chứ chẳng phải là 'quay về' hay 'tìm lại' gì đâu nhé, bởi có bao giờ 'đã từng' như thế đâu mà 'quay về' hay 'trở về'? Cùng lắm là chỉ có thể tự liễu thoát sanh tử thôi, rồi đến lúc nào đó cũng phải nương cậy vào Tịnh Độ cầu sanh về Cực Lạc để thành tựu Phật quả. Cho nên, chúng sanh vốn dĩ đều có tự tánh [làm Phật] như nhau mà thôi, hoàn toàn không có 'vốn dĩ là Phật' đâu nhé. Mà là như thế nào? Dạ vâng, chúng sanh vốn dĩ là... chúng sanh, Mười phương Pháp giới vốn dĩ là Mười phương pháp giới, chẳng có cái gì biến hiện ra cả, ai chịu tu tập thì dần được giải thoát, vị nào chẳng tu tập thì cứ ở mãi trong đó thôi. Chứ chẳng phải thấy tất cả chúng sanh đều có tự tánh Như Lai rồi nói chúng sanh 'vốn dĩ là Như Lai' nhưng bị mê lầm thành ra những cảnh giới này kia, rồi Mười phương pháp giới cũng từ một ý niệm sai lầm mà biến hiện rồi 'sinh sôi nảy nở' ra khắp Pháp giới như vậy, dạ hoàn toàn không phải vậy đâu nhé! Đã là Như Lai thì làm gì có những 'ý niệm sai lầm' này kia được! Kiến gải như vậy là tà kiến, gây sự lầm lạc cả một 'thế giới quan' đấy ạ, chứ không ít đâu! Bởi như thế chúng sanh cứ tưởng mình 'ngon' rồi chẳng chịu chân thật tu tập cầu giải thoát gì cả, đâm ra ỷ lại chủ quan, rồi chẳng chịu chân thật nương cậy vào cái Pháp để cầu giải thoát, chẳng chân thật tin vào cái Pháp mà cứ tin vào chính mình không [vì nghĩ mình đã từng ở đó hay từng thế này thế kia]. Thật sự rằng, chúng sanh 'đã từng' ở mãi trong Tam đồ, do đó cần ra sức tu tập để liễu thoát.

Bởi vậy chúng ta biết, Phật vốn dĩ là chúng sanh tu tập dần lên cho đến khi thành tựu quả vị Phật, cho nên tự tánh của cả hai vốn đều là như nhau, không khác biệt gì cả, khác biệt chỉ ở chỗ 'thọ dụng' cái tự tánh này như thế nào thôi. Rằng các Đức Như Lai thì thọ dụng hoàn toàn, tức hiển lộ trọn vẹn mọi tánh đức vốn có của tự tánh này, còn chúng sanh tùy các thứ lớp cảnh giới mà hiển lộ phần nào hay dạng gần như 'u mê' luôn [như trong tam đồ ác đạo]. Nói chung tùy mức độ hiển lộ của tự tánh [hay nói cách khác tùy mức độ u mê] mà có các cảnh giới khác nhau vậy, trừ thế giới Cực Lạc ra. Bởi ở trên đó là một câu chuyện khác, do Nguyện lực của Phật kiến lập [cả Y báo và Chánh báo] nên dù còn 'u mê' chưa hiển lộ trọn vẹn theo các mức độ khác nhau, nhưng chắc chắn không bao giờ phải bị thoái chuyển hay còn phải bị trải qua sanh tử hay khổ đau phiền não gì nữa, rằng lúc nào cũng 'vui như Tỳ kheo lậu tận' vậy...

Chúng ta đọc các chú giải của các Ngài để hiểu biết thêm.

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 13. Thọ Chúng Vô Lượng

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.