Biện Tài Tổng Trì Tự Tại Vô Ngại, Khéo Hiểu Vô Biên Phương Tiện Thế Gian, Lời Nói Thành Khẩn, Chân Thật

 

 

NPSTD7

Biện Tài Tổng Trì Tự Tại Vô Ngại, Khéo Hiểu Vô Biên Phương Tiện Thế Gian, Lời Nói Thành Khẩn, Chân Thật

Chánh kinh:
Biện tài tổng trì, tự tại vô ngại. Thiện giải thế gian vô biên phương tiện. Sở ngôn thành đế, thâm nhập nghĩa vị. Độ chư hữu tình, diễn thuyết chánh pháp. Vô tướng, vô vi, vô phược, vô thoát, vô chư phân biệt, viễn ly điên đảo. Ư sở thụ dụng, giai vô nhiếp thủ, biến du Phật sát, vô ái, vô yếm, diệc vô hy cầu, bất hy cầu tưởng, diệc vô bỉ ngã vi oán chi tưởng. Hà dĩ cố? Bỉ chư Bồ Tát, ư nhất thiết chúng sanh, hữu đại từ bi lợi ích tâm cố, xả ly nhất thiết chấp trước, thành tựu vô lượng công đức. Dĩ vô ngại huệ, giải pháp như như, thiện tri Tập Diệt âm thanh phương tiện, bất hân thế ngữ, nhạo tại chánh luận.
Biện tài tổng trì tự tại vô ngại, khéo hiểu vô biên phương tiện thế gian, lời nói thành khẩn, chân thật. Thâm nhập nghĩa vị. Độ các hữu tình, diễn nói chánh pháp vô tướng, vô vi, chẳng trói buộc, chẳng giải thoát, không các phân biệt, xa lìa điên đảo. Với những thứ thụ dụng đều chẳng chấp lấy, dạo khắp các cõi Phật, không ưa, không chán, cũng chẳng có ý tưởng mong cầu hay chẳng mong cầu, cũng chẳng có ý tưởng ta - người thù ghét. Vì sao vậy? Các vị Bồ Tát đó đối với hết thảy chúng sanh có tâm đại từ bi lợi ích, bỏ lìa hết thảy chấp trước, thành tựu vô lượng công đức, dùng vô ngại huệ hiểu pháp Như Như, khéo biết âm thanh, phương tiện Tập, Diệt, chẳng thích lời lẽ thế gian, chỉ thích chánh luận.

Giải:
Ðoạn kinh này nói về hạnh lợi tha của bậc Đại Sĩ, gồm có ba điều chính:
1. Diễn thuyết diệu pháp.
2. Dạo trong các cõi Phật.
3. Phổ lợi chúng sanh.
Ba điều này dung nhiếp lẫn nhau.
Từ chữ “biện tài” cho đến “viễn ly điên đảo” (xa lìa điên đảo) nói về tánh đức trí huệ và biện tài của Bồ Tát. Chữ “biện tài, tổng trì” được bản Ngụy dịch ghi là “cụ chư biện tài” (đủ các biện tài). Như vậy, “tổng trì” có nghĩa là đầy đủ các thứ. Câu kinh này ý nói bậc Đại Sĩ cõi ấy đầy đủ các thứ biện tài. Tổng trì còn có nghĩa là đà-ra-ni nên ta còn có thể hiểu là các Ngài đã đắc biện tài đà-ra-ni.
Tiếp đó, kinh nói “tự tại vô ngại” ngụ ý: Bồ Tát đã đắc biện tài vô ngại, hay nói gọn là Vô Ngại Biện. Vô Ngại Biện có thể chia thành bốn hay chín loại. Tứ Vô Ngại Biện còn gọi là Tứ Vô Ngại Trí, Tứ Vô Ngại Giải. Ðó là trí huệ biện tài xét về mặt thuyết pháp của Bồ Tát. Do từ phương diện ý nghiệp mà nói nên gọi là Giải (解) hoặc là Trí (智). Nếu nói theo phương diện khẩu nghiệp thì gọi là Biện (辯).
Kinh Niết Bàn giảng về Tứ Vô Ngại Biện như sau: “Bồ Tát có thể đạt được bốn vô ngại như sau: Pháp Vô Ngại, Nghĩa Vô Ngại, Từ Vô Ngại, Nhạo Thuyết Vô Ngại”.
Còn theo kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã, có đến chín thứ biện tài là: “Vô sai biện, vô tận biện, tương tục biện, bất đoạn biện, bất khiếp nhược biện, bất kinh bố biện, bất cộng dư biện, vô biên tế biện, nhất thiết thiên nhân sở ái trọng biện”. Chín thứ này cũng được gọi là Vô Ngại Biện.
Ðại Sĩ cõi Cực Lạc có đầy đủ các thứ biện tài mầu nhiệm vô ngại như thế chẳng hề bị chướng ngại nên kinh bảo: “Biện tài tổng trì tự tại vô ngại”.
“Thiện giải thế gian vô biên phương tiện” (Khéo hiểu vô biên phương tiện của thế gian) là Sai Biệt Trí. Phương tiện là thiện xảo. Do khéo biết căn tánh và ý thích của hết thảy chúng sanh, khéo léo thuyết pháp tùy theo cơ nghi nên khế hợp căn cơ.
“Sở ngôn thành đế, thâm nhập nghĩa vị” (Lời nói thành khẩn, chân thật, thâm nhập nghĩa vị): “Thành đế” (誠諦) là thành khẩn, chân thật. Do Căn Bản Trí khế hợp lý Thật Tướng, đắc Sai Biệt Trí, hiểu biết căn cơ của chúng sanh nên nói ra pháp “thâm nhập nghĩa vị”. [Vì thuyết pháp] khế lý, khế cơ khiến cho tất cả những người nghe lãnh hội được nghĩa lý, hiểu sâu pháp vị nên họ đều được độ thoát. Do đó, kinh bảo: “Ðộ chư hữu tình” (độ các hữu tình). (...)

KINH A DI ĐÀ 000VBVVC3555

Ảnh minh họa: "Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Phật ở nước Xá Vệ, nơi vườn của ông Cấp Cô Độc và cây của ông Kỳ Đà, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ Kheo tụ hội, đều là bậc đại A La Hán mà mọi người biết đến."

[Kinh A Di Đà bằng tranh]

Chúng ta tiếp tục đến với phần tiếp theo trong Phẩm 30, Bồ Tát Tu Trì. Trong phần Kinh văn này, Phật tiếp tục diễn nói về các năng lực cùng cảnh giới tu trì của các vị Bồ Tát nơi cõi Cực Lạc. Nói chung thì xét bàn về năng lực của các Ngài nơi cõi ấy thì thật sự 'miễn bàn', chẳng có gì có thể diễn tả hết được. Nói về hạnh 'diễn nói' [biện tài] thôi thì là: "Biện tài tổng trì, tự tại vô ngại. Thiện giải thế gian vô biên phương tiện. Sở ngôn thành đế, thâm nhập nghĩa vị. Độ chư hữu tình, diễn thuyết chánh pháp" [Biện tài tổng trì tự tại vô ngại, khéo hiểu vô biên phương tiện thế gian, lời nói thành khẩn, chân thật. Thâm nhập nghĩa vị. Độ các hữu tình, diễn nói chánh pháp], còn nói về trụ tâm [để hành] thì: "Vô tướng, vô vi, vô phược, vô thoát, vô chư phân biệt, viễn ly điên đảo" [vô tướng, vô vi, chẳng trói buộc, chẳng giải thoát, không các phân biệt, xa lìa điên đảo]. Nói chung các Ngài [Pháp thân đại sĩ, Nhất sanh bổ xứ, Bồ Tát...] ở trên đó thì năng lực, thần thông, trí huệ, biện tài, cảnh giới ở mức cao tột rồi, chúng ta chẳng thể hình dung nổi [chẳng thể nghĩ bàn được]. Thế nhưng để đạt được như thế thì các vị ấy cũng phải trải qua một quá trình tu tập lâu xa [trên đó] mới chứng đắc được những cảnh giới như vậy, chứ chẳng phải tự nhiên mà có được vậy. Cho nên [phàm phu] chúng sanh được sanh về đó thì trước hết phải ở trong hoa sen một thời gian đã để tu trì, tiêu trừ nghiệp chướng dần, cho đến khi nào 'nghiệp tận, tình không' [tức thoát khỏi phàm phu, gia nhập dòng Thánh] thì mới "hoa khai kiến Phật, ngộ vô sanh", lúc đó mới được tự tại thật sự [và mới có thể phát tâm đi độ sanh các cõi]. Cho nên đừng có đọc các dòng Kinh này rồi đâm ra lo ngại, rằng mình đây còn phàm phu quá mà cảnh giới các vị ấy cao tột quá, như thế thì làm sao được sanh về để khế hợp tương ưng cho được. Dạ, hoàn toàn không phải vậy đâu ạ, chúng ta đừng có suy nghĩ như vậy, bởi tất cả đều có thứ lớp, có quá trình cả, từ thấp lên cao, ở đâu cũng vậy cả thôi, cứ từ từ tu trì rồi 'leo' dần lên, chứ chẳng phải 'một bước lên mây', chẳng có gì tự nhiên mà có được như vậy cả, Phật đã tính toán hết cả rồi, đừng lo. Cho đến hạng thấp nhất [bét] còn được về [vào thẳng Chánh quốc] huống hồ chi chúng ta tu tập cả đời ở đây thì sao không xứng đáng để được về cơ chứ. Vấn đề cốt lõi đó là đường lối, cách thức tu tập thế nào thôi, có đúng lý đúng pháp chưa, có phù hợp với căn cơ hoàn cảnh của mình chưa. Thật sự với Pháp môn này, quan trọng đó là gì? Đó chính là chọn cho đúng đường lối tu trì cho phù hợp với mình [tức khế lý, khế cơ], chứ chẳng phải Kinh văn Phật thuyết đường lối dành cho hàng Bồ Tát, Thánh hiền hay dạng Thượng căn thượng trí [như Đại Nguyện 19] mà ta đây phàm phu đang chìm nổi trong Ngũ trược, sanh tử, không có cách nào ra, như thế mà lại cố 'chui đầu' vào thì thôi rồi, xác định 'tái sanh' [chứ chẳng phải vãng sanh] trong đời này vậy, 'kiếp này thôi đã lỡ' rồi. Cho nên, tất cả tại ta cả, đừng có kêu than, đừng có oán trách ai cả. Phật nói Pháp môn "chỉ một đời thành tựu" và "Phổ độ khắp chúng sanh" [tức chắc chắn có mình trong đó], như thế nghĩa là sao? Nghĩa là chắc chắn có cái Pháp để mình nương tựa vào mà tu trì để đảm bảo chắc chắn đời này được thành tựu vãng sanh, bất luận ta là ai, căn cơ thế nào. Chứ chẳng phải nói Pháp Phật đề ra sao cao vợi quá con không với tới được, dạ không có chuyện đó, đó là do không biết, chưa biết tới, hoặc giả cố tình 'làm ngơ' dù đã được học tập, được nhân duyên bắt gặp. Nói chung lại rằng, một khi đã được nhân duyên bắt gặp, nhưng vẫn chưa chịu nương theo để được thành tựu, đó là do hành giả bị dính vào một hay nhiều cái 'nạn' trong cái 'tứ nạn' mà Phật đã nói rõ trong Kinh: "Ác, kiêu, biếng nhác, và tà kiến. Pháp vi diệu Như Lai khó tin", chỉ có vậy, với bất cứ ai, từ Thánh nhân đến phàm phu, từ Bồ Tát [tái lai] cho đến chúng sanh trong Ngũ trược, vẫn chẳng ngoài những điều này. Phật đã nói "Pháp vi diệu" của Như Lai mà lại chẳng chịu tin, thật là đáng tiếc lắm thay, thà Pháp 'thông thường' mà bỏ qua thì không đáng nói, còn đằng này...

Có một điều này chúng ta nói thêm, rằng nói như thế thì phàm phu trong Ngũ trược đây thì có thể mê muội chẳng tin, thế nhưng hàng Bồ Tát [xuất thế độ sanh] thì sao có thể chẳng tin được chứ? Rằng như trên đoạn Kinh có nói "lời nói thành khẩn, chân thật", rồi "diễn thuyết Chánh Pháp" đó là gì? Thế thì làm sao các Ngài lại rơi vào "tà kiến" hay gì đó cho được cơ chứ? Dạ vâng, cho dù các Ngài thật sự là hàng Đại Bồ Tát trên đó xuống đây để độ sanh đi nữa [chứ đừng nói hàng Bồ Tát thông thường], thế thì sao? "Diễn thuyết Chánh Pháp", "lời nói chân thật"? Dạ đúng, có thể, nhưng không phải tất cả, hay lúc nào cũng vậy, hoặc giả các Ngài trên đó thì mảy trần chẳng nhiễm [ngũ dục], dạ đúng, nhưng một khi 'xuống tới đây' là câu chuyện khác rồi ạ. Chẳng hạn lúc chưa phát tâm tu tập [tức khi còn nhỏ, ngoài đời] rằng các Ngài ấy có bị nhiễm [thói hư tật xấu] này kia không? Dạ đừng nói là không có nhé, thậm chí là phạm vào phỉ báng Pháp môn luôn chứ đừng nói về những giới, hạnh này kia. Cho nên một khi 'bước xuống' cõi nhân gian này, thọ sanh sinh ra, thì phải bắt đầu làm lại từ đầu [như phần lớn người thế gian vậy], chỉ là căn cơ các Ngài khi đã phát tâm tu trì hành đạo mới dần tạo ra khác biệt, chỉ có một số rất ít là hiển thị ngay từ nhỏ mà thôi, còn lại phần nhiều đều đợi khi lớn lên tu trì cho đến sau này về già mới hiển lộ rõ, tức phải trải qua một quá trình phấn đấu tu trì miên mật không ngừng nghĩ suốt cuộc đời vậy, rồi tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự hành khuyên người... Rồi trong suốt quá trình tu trì ấy, tùy hoàn cảnh nhân duyên, thậm chí tùy mức độ tu trì thế nào, mà sự thành tựu, sự độ sanh, sẽ có khác biệt, có sự linh động, rằng có thể theo như ý nguyện [ban đầu] hay không, mức độ viên mãn thế nào... chứ chẳng phải vị nào xuống đây cũng như ý [ban đầu] cả đâu, dạng bị sai lệch hay bị dính ách nạn này kia [trong Ngũ trược này] có không? Nhiều lắm, không ít đâu, mức độ cũng muôn hình vạn trạng. Có vị mới đi được nửa đường [nửa đời người] Phật 'bắt' phải quay về ngay [vì ở lại chỉ tổ 'hại sanh', mất lợi ích chúng sanh mà thôi], rồi có vị ước nguyện cuối đời muốn [thị hiện] như vậy để làm biểu pháp cho chúng sanh nhưng có được đâu, bởi xuống đây làm thế nào thì lúc cuối phải nhận lấy cái quả như vậy thôi, bình thời ban cái pháp cho chúng sanh thế nào thì lúc cuối phải nhận lại y hệt vậy [để cho chúng sanh thấy mà biết], với nhân nào quả nấy, không sai chạy đi đâu được hết. Cho nên chúng ta đừng có 'thần thánh hóa' [những lời giảng] của các Ngài, rằng "Chánh Pháp" một trăm phần trăm, hay chẳng bao giờ bị "tà kiến" trong đó, dạ không hẳn đâu ạ. Với các Pháp thế gian, với cảnh giới công phu của các Ngài, thì có thể như thế thật, vì các Ngài đều phần nhiều Minh tâm kiến tánh cả, nên đối với thế gian pháp thì hầu như các Ngài nói chuẩn hết, đúng pháp cả. Song với Pháp môn này, đó lại là câu chuyện khác, rằng Minh tâm kiến tánh, hay Đại triệt đại ngộ gì đó là một chuyện, còn diễn nói cho đúng nghĩa lý [của Phật] lại là chuyện khác, nhất là dạng đã thâm nhập nhiều vào các Pháp tự lực thế gian thông thường khác trước đó rồi, rồi một khi chuyển sang Tịnh Độ Tông mà chẳng chịu 'rủ bỏ' đi cái tư tưởng đó thì thôi, kiểu gì cũng sa vào 'tà kiến', đó là điều chắc chắn luôn, không thể tránh khỏi. Và như thế thì sao? Chỉ có thể nương vào cái Pháp Tự Lực Niệm Phật [tức gầy dựng công phu, cầu đạt Nhất tâm bất loạn, từ Đại Nguyện 19], đây cũng là Chánh Pháp vậy thôi, nhưng có cái là diễn nói trước đại chúng phàm phu số đông không thì lại không hợp, 'khế lý' nhưng không 'khế cơ'. Còn cái Pháp vừa khế lý vừa khế cơ thì lại chẳng diễn nói, do cho rằng đó chính là Phật đang nói Pháp Biên Địa [cho rằng mười niệm này dành cho lúc lâm chung phải có, hay niệm cuối cùng phải là A Di Đà Phật], nói chung bị tư tưởng Pháp tự lực làm sai lệch đi, như vậy thì đó chính là 'chánh kiến' chăng? Nếu vậy thì cái Pháp Tông chỉ tông yếu của Pháp môn bỏ đi đâu rồi? Chúng sanh thì lầm lạc mê muội chẳng biết cứ thấy 'lý huyền lý diệu' là mê muội chạy theo. Cho nên chúng ta thấy rằng, chỉ có lời Phật thuyết trong Kinh là tuyệt đối tin tưởng được, còn như ai nói giống như vậy thì nghe theo, còn ai nói khác đi hay không có trong Kinh văn thì không nghe theo, cho dù đó là lời ai nói ra đi nữa, chỉ cần đơn giản như vậy, khỏi phải lăn tăn chi. Với chúng ta phải ghi nhớ đoạn Kinh văn này, Phật nói trong Kinh rằng: " Biển trí huệ Như Lai sâu rộng. Chỉ Phật cùng Phật mới biết được. Thanh văn ức kiếp suy trí Phật. Tận hết sức cũng không thể hiểu. Công đức Như Lai Phật tự biết. Chỉ có Thế Tôn mới khai thị". Với Pháp môn này, "Chỉ có Thế Tôn mới khai thị", cho nên mọi diễn giải khác đi [với Kinh văn] đều không thể chấp nhận, nó khác với các Pháp môn khác là vậy. Bởi vậy, như chúng ta đã học tập nhiều lần, trong quá trình học tập gầy dựng Tín tâm, thì chỉ cần trong Kinh văn nói sao thì cứ 'sao y' đúng y hệt như vậy mà tin mà hành là tuyệt đối yên tâm, cho dù ai có nói tới nói lui, nói thuận nói nghịch, trích dẫn trích lục gì gì đi nữa, hay tìm cách 'phá đám' [Tín tâm của ta], cứ kệ, chẳng bận tâm. Bởi vậy, dần dần qua quá trình tu trì, trãi trường trong đời trong đạo, chúng ta mới cảm nhận được cái giá trị của việc nương tựa từ Kinh giáo [Bổn Nguyện] mà các Ngài đã chỉ dạy truyền trao cho là như thế nào. Chứ nếu không, có thể chỉ vài câu nói, hay vài đoạn trích lục từ đâu đó là đã khiến chúng ta lung lay hay 'bật gốc' ngay.

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 30. Bồ Tát Tu Trì

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.