Ngay từ đầu đã biết được nghĩa này thì sẽ được lợi ích lớn lao
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn bình thường nhất nhưng cao sâu nhất trong Phật Pháp. Nếu không phải là người đã có huệ căn từ đời trước, quả thật khó thể sanh lòng chánh tín sâu xa. Đừng nói Nho sĩ chẳng dễ sanh lòng tin, ngay cả những vị tri thức thông Tông thông Giáo cũng thường đem những nghĩa thuộc bên Tông bên Giáo để luận định, phán đoán, đến nỗi chẳng những không chịu tu pháp “khiến cho kẻ phàm phu sát đất chưa đoạn Phiền Hoặc liền có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh ngay trong đời hiện tại” chẳng thể nghĩ bàn này mà còn chẳng chịu dạy cho người khác. Ấy là vì họ chẳng biết pháp này chính là pháp môn đặc biệt trong Phật pháp. Bọn họ lấy những nghĩa bên Tông bên Giáo làm chuẩn nên mới phạm phải sai lầm ấy! Nếu ngay từ đầu bọn họ đã biết được nghĩa này thì sẽ được lợi ích lớn lao.
Cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương
Người thông minh phần nhiều lấy “hiểu lý, ngộ tâm” làm chí hướng, sự nghiệp, nhưng chẳng biết niệm Phật chính là đường tắt để “hiểu lý, ngộ tâm”. Nếu niệm niệm có thể tương ứng thì sẽ tự “hiểu lý, ngộ tâm”. Dẫu chưa làm được, nhưng cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương; so với những kẻ “hiểu lý, ngộ tâm”, nhưng chưa đoạn Phiền Hoặc, vẫn bị luân hồi trong sanh tử trọn chẳng có lúc thoát ra, thì [sự cách biệt] giữa trời và đất đã chẳng đủ để ví dụ cho sự bế tắc và hanh thông [giữa hai đường lối tu tập] vậy! Huống hồ sau khi vãng sanh sẽ thân cận đức Di Đà và thánh chúng, sẽ liền đích thân chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn, há nào phải chỉ có “hiểu lý, ngộ tâm” mà thôi ư?
Chẳng chịu cậy vào Phật từ lực, cứ lấy “cậy vào đạo lực của chính mình” làm chí hướng sự nghiệp
Pháp môn Tịnh Độ chỉ có bậc thượng thượng căn và ngu phu ngu phụ mới được hưởng lợi ích thật sự, còn kẻ thông minh thông Tông thông Giáo đa phần vì chí hướng to tát, lời lẽ lớn lối, chẳng chịu cậy vào Phật từ lực, cứ lấy “cậy vào đạo lực của chính mình” làm chí hướng sự nghiệp, cam phận nhường cho ngu phu ngu phụ sớm dự vào dòng thánh. Chắc ở quý ấp cũng có những người mang thứ kiến giải ấy, cho nên tôi mới nói đại lược nguyên do.
Đặc biệt nói đại lược hai nghĩa thông thường và đặc biệt
Đã muốn quy y thì nay tôi đặt pháp danh cho ông là Khế Quang. Tiếng Phạn “A Di Đà”, ở đây (Trung Hoa) dịch là Vô Lượng Thọ, cũng dịch là Vô Lượng Quang. Nếu có thể nhất tâm niệm Phật thì chính là lấy Quả Địa giác làm Nhân Địa tâm. Nếu tâm tâm tương ứng thì nhân trùm biển quả, quả tột nguồn nhân, cực bình thường mà cực huyền diệu. Nếu có thể tin nhận được thì sẽ đáng gọi là bậc đại trượng phu lỗi lạc. Do túc nghiệp, Quang vừa sanh ra liền bị bệnh mắt, may là còn được thấy bầu trời bảy mươi mấy năm. Nay thì mắt đã cực quáng lòa, cự tuyệt hết thảy những chuyện bút mực thù tiếp. Sợ ông sẽ bị những người xướng suất, hướng dẫn những tông khác lay động, đoạt mất chí hướng, nên mới đặc biệt nói đại lược hai nghĩa thông thường và đặc biệt, ngõ hầu ông chẳng đến nỗi biến khéo thành vụng, cầu thăng lên đâm ra bị đọa xuống.
Dùng luân thường xử thế hằng ngày để hỗ trợ Tịnh nghiệp
Hãy nên thường đọc Tịnh Độ Ngũ Kinh thì sẽ biết pháp môn Tịnh Độ là pháp môn tổng trì để mười phương tam thế hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo dưới hóa độ chúng sanh. Đối với những điều tôi chưa nói, hãy đọc Tịnh Độ Thập Yếu thì mọi mối nghi sẽ tan tác, được cởi gỡ, vầng trăng nhất tâm rạng ngời. Tuy Văn Sao lời lẽ vụng về, chất phác, nhưng đã giảng rõ được đại lược nguyên do giữa Thiền và Tịnh, cũng như dùng luân thường xử thế hằng ngày để hỗ trợ [Tịnh nghiệp], cho nên cũng có thể giúp cho tự lợi, lợi tha được.

Nam Mô A Di Đà Phật
Đoạn đầu: Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn bình thường nhất nhưng cao sâu nhất trong Phật Pháp. Nếu không phải là người đã có huệ căn từ đời trước, quả thật khó thể sanh lòng chánh tín sâu xa.
Trong Kinh Phật đã nói: "Nếu xa xưa không tu phước huệ; Thì Chánh Pháp này không thể nghe", "nghe" ở đây tức là nghe rồi tin nhận, không nghi. Rồi tiếp: "Đã từng cúng dường các Như Lai; Nên hay vui mừng tin pháp này", chúng ta để ý, "đã từng cúng dường các Như Lai" nha, chứ chẳng phải cúng dường các bậc thấp hơn như Bồ Tát, Thánh Nhân..., tức là đã từng gieo trồng các thiện căn với Chư Phật. Cho nên để một đời này có thể phát sanh chánh tín với Pháp môn này thì nếu ai chưa có thể tin nhận được [Pháp môn này] thì cần nên thân cận Tam Bảo, rồi cúng dường Tam Bảo, Chư Phật, hay làm các Phật sự này kia như xây chùa, tạo tượng, tặng tranh ảnh Phật, đúc chuông, hộ trì Chánh Pháp... để gieo trồng thiện căn với Chư Phật, với Tam Bảo, dần dần sẽ nuôi lớn căn lành, rồi sẽ dễ dàng tin nhận Pháp môn này thôi.
Tiếp theo: Đừng nói Nho sĩ chẳng dễ sanh lòng tin, ngay cả những vị tri thức thông Tông thông Giáo cũng thường đem những nghĩa thuộc bên Tông bên Giáo để luận định, phán đoán, đến nỗi chẳng những không chịu tu pháp “khiến cho kẻ phàm phu sát đất chưa đoạn Phiền Hoặc liền có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh ngay trong đời hiện tại” chẳng thể nghĩ bàn này mà còn chẳng chịu dạy cho người khác.
Thật ra một khi thâm nhập sâu vào các Pháp môn tự lực khác như Tông, Giáo rồi thì khi quay về với Tịnh Độ sẽ có những trở ngại nhất định. Vì sao vậy? Đơn giản một điều đó toàn là những lời Kinh Phật thuyết ra cả, cho nên một khi đã tin nhận rồi thì không lẽ 'xóa' đi được chăng? Đây là một việc rất khó, bởi tất thảy đều là lời Phật thuyết ra, làm sao có thể dễ gì chọn lựa, lấy bỏ cho được. Còn nếu mà 'thâu nhận' hết thì sẽ dẫn đến tình trạng nhập nhằng, bị các tư tưởng kia chi phối ngay [khi luận về Tông chỉ, đường lối của Tịnh Độ], đây chính là chỗ mà phần đông hành giả hiện nay đang bị mắc kẹt trong đó, chẳng thể thoát ra được, thậm chí từ hàng Đại Bồ Tát, Đại thánh đại hiền cho đến hạng trung, hạng phàm phu nói chung, phần đông đều bị tình trạng như vậy. Nói thế không phải là tất cả giáo lý của Tịnh Độ Tông đều đi ngược lại với các Pháp môn tự lực kia, mà ở đây phải nhấn mạnh ở chỗ là khi bàn đến Tông chỉ Pháp môn, tức nói cụ thể là điều kiện để được vãng sanh, có vãng sanh được hay không là do cái gì [quyết định]. Chứ còn tu Tịnh Độ ngoài chánh hạnh [Tín Nguyện, niệm Phật] ra còn phải kiêm kèm nhiều thứ trợ hạnh khác nữa, như tu Tịnh Nghiệp Tam Phước, Lục Độ Vạn Hạnh..., đây đều là các Pháp Tự lực của thế gian cả, để có một nền tảng, gốc rễ vững chắc trên con đường Bồ Đề, tu tập. Giống như xây một ngôi nhà thì phần chìm là nền móng phải chắc chắn vững chãi, một cái cây muốn đơn hoa kết trái tốt thì gốc rễ phải sinh trưởng tốt trong đất [tức trong thế gian]. Cho nên chúng ta phải nhận thức rõ chỗ này, rằng luận về Tịnh Độ thì khi nào cần nói về các Pháp thế gian [tự lực], khi nào nói về Tông chỉ tông yếu [Pháp xuất thế], cả hai phải Chánh - Trợ song tu. Chứ không lại bảo ủa sao lúc trước ông bảo tu Tịnh Độ thì không được đưa tư tượng tự lực của các Pháp thế gian vào mà sao giờ toàn xiểng dương, nhấn mạnh đến các Pháp thế gian [như chẳng hạn Tịnh nghiệp tam phước] cả vậy? Vậy lời nói của ông là bất nhất, nói cái sau mâu thuẫn cái trước rồi? Dạ, tất cả là như vậy đó, một khi nói về Chánh hạnh thì là vậy, còn khi nói về trợ hạnh thì lại khác, chỗ này phần đông chúng ta hay bị nhập nhằng, không phân định rõ. Nhất là các vị tu theo Pháp Biên Địa hay theo tư tưởng Tự lực niệm Phật thì thôi rồi, rằng chẳng biết đâu là Chánh hạnh [Tông chỉ] đâu là Trợ hạnh cả, cứ nhập nhằng lộn xộn hết cả lên, rồi tu lâu tu riết rồi cái gì cũng được đưa lên thành Tông chỉ tông yếu, là Chánh hạnh hết cả, chẳng hạn nói: Phải đoạn được phiền não mới vãng sanh, tâm phải thanh tịnh mới vãng sanh, rồi công đức phải 'đủ' mới được vãng sanh, công phu phải như thế nào đó mới vãng sanh, cái tâm phải tốt đến mức nào đó [chẳng biết nữa] thì mới được vãng sanh, buông xả [rốt ráo hết] mới được vãng sanh, còn dính mắc là không thể vãng sanh v.v... Nói chung là có hàng tá cái 'tông chỉ' tương tự như vậy, còn cái Tông chỉ thực sự từ lời Kinh Phật thuyết ra thì tuyệt chẳng thấy nói tới. Cho nên với Pháp môn này đừng nói là Thánh hiền, Đại triệt đại ngộ, ngay đến hàng Đại Bồ Tát [tái lai độ sanh] nhiều khi cũng bị nhập nhằng như vậy. Nói vậy thì giờ chúng ta nên tin ai đây? Rất đơn giản thôi, cứ Kinh giáo Tịnh Độ mà tin [hay những giáo lý có tư tưởng giống như vậy]. Ở đây xin nói rõ là dù cũng là lời Kinh Phật thuyết ra nhưng một khi nói về Tông chỉ, đường lối này kia của Pháp môn thì phải lấy từ các Kinh giáo Tịnh Độ nhé, chứ không phải là những Kinh giáo của các Pháp môn khác, còn một khi nói về các hạnh Trợ lực [thế gian] thì có thể tùy nghi mà sử dụng các Kinh giáo khác, tùy nghi phương tiện, cái nào thuận duyên hữu duyên thì dụng, không ai ngăn cấm cái gì cả.
Tiếp tục: Ấy là vì họ chẳng biết pháp này chính là pháp môn đặc biệt trong Phật pháp. Bọn họ lấy những nghĩa bên Tông bên Giáo làm chuẩn nên mới phạm phải sai lầm ấy! Nếu ngay từ đầu bọn họ đã biết được nghĩa này thì sẽ được lợi ích lớn lao.
Như trên đã nói, một khi cái tư tưởng [tức các Pháp, các đường lối] đã ăn sâu vào tâm thức rồi thì thật sự khó 'cởi bỏ' ra được. Tuy nhiên, khó chứ không phải là không thể. Rằng một khi hành giả đã kinh qua nhiều giáo lý của các Pháp tự lực thông thường, rồi sau đó chuyển qua phát tâm tu Tịnh Độ cầu vãng sanh thì để dẹp bỏ đi các tư tưởng Pháp tự lực trong tâm [khi học tập cái Pháp Tông chỉ] thì chỉ có cách mạnh mẽ nhất, hữu hiệu nhất, đó là dùng chính lời Kinh Phật thuyết để 'cởi trói' cho lời Kinh Phật thuyết. Nghĩa là trước hết phải nhận thức được sự "đặc biệt" của cái Pháp môn này, tức tư tưởng khác hẳn với các Pháp môn khác [kể cả các Pháp thế gian hay xuất thế]. Bước tiếp theo, sau khi đã nhận thức được chữ "đặc biệt" này rồi, thì dùng chính những lời Kinh trong Kinh giáo Tịnh Độ để thay thế cho những lời Kinh [tư tưởng] các Pháp kia, như thế tức là dùng chính cái uy tin của lời Kinh Phật thuyết để 'xóa' đi các tư tưởng tự lực trước kia. Chỉ có như vậy mới giúp chúng ta nhanh chóng, dễ dàng 'bẻ lái' cái tư tưởng đã bị ăn sâu của mình, chứ thật sự ngoài ra thì chẳng có lời vàng ngọc của ai, kể cả Bồ Tát, Thánh hiền đi nữa, đủ cái uy tín để làm thay đổi tu tưởng của ta được, bởi bên kia là lời từ kim khẩu Phật thuyết ra thì bên này cũng phải như vậy, không được khác [hay thấp hơn]. Rồi như đã nói, rằng cũng là những Pháp môn từ chính kim khẩu Phật thuyết ra, nhưng một đằng là các Pháp tự lực "thông thường", một đằng là cái Pháp "đặc biệt", hai bên khác hẳn nhau, bởi trong một đời Phật đã thuyết ra rất nhiều Pháp môn khác nhau, đến tám vạn bốn ngàn Pháp môn cơ mà. Nhưng điều quan trọng, cốt lõi nhất, mà như các Ngài đã nhấn mạnh cho chúng ta thấy, đó là chữ "thông thường" và chữ "đặc biệt", chúng ta tu học Tịnh Độ đừng bao giờ quên hai cái chữ này, rằng Pháp này là Pháp "đặc biệt" [tức khác hẳn, không giống các Pháp "thông thường" còn lại].
Đoạn tiếp: Dẫu chưa làm được, nhưng cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương; so với những kẻ “hiểu lý, ngộ tâm”, nhưng chưa đoạn Phiền Hoặc, vẫn bị luân hồi trong sanh tử trọn chẳng có lúc thoát ra, thì [sự cách biệt] giữa trời và đất đã chẳng đủ để ví dụ...
Chúng ta nói một chút chỗ này, "cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương", cái này thì nghe quen quá rồi, nhưng vẫn cứ nhắc đi nhắc lại hoài như vậy, bởi mỗi lần nhắc là một lần 'ép phê' nha chứ chẳng phải miễn cưỡng hay thêm chán. Rằng có lẽ hầu như đa phần hành giả đọc tới chỗ này thì nghĩ "cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương" là cái công đoạn được Phật đến tiếp dẫn về Tây, "cậy" vào Tha lực Phật tức là cậy như vậy, "khác" với các Pháp môn khác là khác chỗ đó. Dạ vâng, đúng là như vậy, nhưng chưa đủ, mà phải hiểu chữ "cậy" ở đây đó là Phật đảm bảo cho việc vãng sanh của ta lúc cuối, bất luận có như thế nào đi nữa. Nói rõ hơn nữa, đó là Phật dùng Phật nguyện lực của Ngài để làm sao rước ta về được thì thôi, đó chính là ta đã "cậy" được vào Tha lực của Phật đấy, chứ chẳng phải chỉ có công đoạn "rước" không đâu, mà còn nhiều cái khác nữa [gia hựu, che chở, sắp đặt...]. Vậy mới nói sự thù thắng của Pháp môn chứ, chứ ai lại chỉ nói "rước" thôi [như Pháp Biên Địa nói], còn lại những cái quan trọng trước đó [như tâm không điên đảo, đối đầu cận tử nghiệp, giữ chánh niệm...] toàn do chúng sanh 'tự lực cánh sinh' cả. Rồi một khi tự lực không kham nổi thì 'ao' chăng? Đã nói rằng Pháp môn "mười phương Chư Phật tán thán" mà chỉ có như vậy thôi sao? Cho nên cái quan trọng là phải hiểu đúng Kinh giáo [chỗ Bổn Nguyện] đi đã, rồi muốn nói gì nói, muốn học gì học.
Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Thư trả lời cư sĩ Tần Minh Quang
Đại Sư Ấn Quang
