Chánh kinh:
Bát phương thượng hạ, Phật quốc vô số. A Di Đà quốc, trường cửu quảng đại, minh hảo khoái lạc, tối vi độc thắng. Bổn kỳ vi Bồ Tát thời, cầu đạo sở nguyện, lũy đức sở trí. Vô Lượng Thọ Phật, ân đức bố thí bát phương thượng hạ, vô cùng vô cực, thâm đại vô lượng, bất khả thắng ngôn.
Tám phương, trên, dưới có vô số cõi Phật. Cõi Phật A Di Ðà trường cửu, rộng lớn, sáng, đẹp, khoái lạc, thật là thù thắng độc nhất. Ấy vốn là do sở nguyện cầu đạo, tích tập công đức lúc Phật tu Bồ Tát đạo tạo thành. Vô Lượng Thọ Phật bố thí ân đức cả tám phương, thượng, hạ một cách vô cùng vô cực, rộng sâu vô lượng chẳng thể nói nổi.
Giải:
“Bát phương thượng hạ” (Tám phương, thượng, hạ) là tám phương kể thêm phương trên, phương dưới thành ra mười phương.
Trong vô số cõi Phật ở mười phương, không cõi nào có thể sánh nổi cõi Cực Lạc về mặt “trường cửu, quảng đại, minh hảo, khoái lạc” (trường cửu, rộng lớn, sáng, đẹp, khoái lạc) nên kinh bảo “tối vi độc thắng” (thật là thù thắng độc nhất).
“Trường cửu” (長久) chính là thường trụ như kinh nói: “Kiến lập thường nhiên, vô suy, vô biến” (Kiến lập thường nhiên, chẳng suy, chẳng biến). Chữ “quảng đại” (廣大: rộng lớn) nên hiểu như trong ví dụ về biển cả vừa đề cập ở trên. “Minh” (明) là thanh tịnh, quang minh.
“Hảo” (好) là tướng tốt trang nghiêm. “Khoái lạc” (快樂) là như kinh Tiểu Bổn ghi: “Vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc” (chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng các niềm vui).
Cực Lạc sở dĩ “tối vi độc thắng” (thật là thù thắng độc nhất) toàn là do Phật Di Ðà lúc còn tu nhân đã cầu được đại nguyện, trong vô lượng kiếp tích công trữ đức nên mới được thành tựu như thế. Phật Di Ðà đem ân đức vô thượng ấy thí khắp mười phương chẳng có cùng tận. Ân đức của Phật Di Ðà rộng lớn sâu xa khó lòng diễn tả nổi. Dẫu cho thân có trăm miệng, mỗi miệng có trăm lưỡi nói suốt cả kiếp cũng chẳng trình bày hết nổi nên bảo “bất khả thắng ngôn” (chẳng thể nói nổi). Ấy là vì đức Phật ấy trụ Chân Thật Huệ nên có thể ban bố cái lợi chân thật khiến cho khắp hết thảy chúng sanh cùng nhập Chân Thật Tế nên ân đức của Ngài chẳng hề cùng tận.

Ảnh minh họa: " Này Xá-lợi-phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế! Lại này nữa Xá-lợi-phất, cõi nước kia thường có các loài chim màu sắc kỳ diệu, như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng Mạng. Những thứ chim này, ngày đêm sáu thời, hót lên tiếng hòa nhã..."
[Kinh A Di Đà bằng tranh]
Chúng ta đến với phần cuối trong Phẩm 29, Nguyện Lực Hoằng Sâu. Trong phần đoạn này Phật một lần nữa nói cụ thể rằng cõi Cực Lạc ấy "trường cửu quảng đại, minh hảo khoái lạc, tối vi độc thắng" [trường cửu, rộng lớn, sáng, đẹp, khoái lạc, thật là thù thắng độc nhất]. Điều này thì chúng ta đã được biết Phật nói rất nhiều lần trong Kinh giáo này rồi, rằng cõi nước ấy vừa thù thắng lại vừa sáng đẹp, khoái lạc bậc nhất, so với các cõi Phật khác. Ở đây chúng ta thấy có chữ "khoái lạc" [an, vui] bậc nhất, điều đó chứng tỏ cõi nước ấy chẳng phải chỉ có thanh tịnh, trang nghiêm không thôi mà còn hưởng niềm an vui, an lạc tối thượng, tức là cõi nước ấy không phải cứ suốt ngày hành trì tu tập kiểu 'gò bó' hay 'khắc khổ' hay 'khuôn phép' gì cả mà là hoàn toàn tự tại, an vui trong nhịp sống, sinh hoạt, tu tập hành đạo. Nói chung là ở đó ai muốn làm gì thì làm, tu kiểu gì thì tu, chẳng ai ép uổng hay bắt buộc ai gì cả, hoàn toàn tự nguyện tự ý. Song với y báo chánh báo thù thắng như vậy cùng Bồ Tát thánh hiền chung quanh [làm gương, dìu dắt] thì chỉ toàn thấy những trợ duyên trợ đạo thù thắng cho việc tu đạo, thúc liễm thân tâm tiến lên, chẳng có nhân duyên xấu ác nào ở đó cả nên chỉ có tiến bước nhanh chậm thôi chứ chẳng có đứng yên hay lùi bước.
Đức Phật A Di Đà kiến lập nên cõi quốc độ thù thắng đẹp đẽ bậc nhất, vượt trỗ hơn hết thảy, đó là "do sở nguyện cầu đạo, tích tập công đức lúc Phật tu Bồ Tát đạo tạo thành", "bố thí ân đức cả tám phương, thượng, hạ một cách vô cùng vô cực, rộng sâu vô lượng chẳng thể nói nổi". Tất cả đều có nguyên do hết cả, tạo nhân như thế nào thì sẽ ra cái quả như thế ấy. Giống như ở đây chúng ta muốn xây một công trình rộng lớn nguy nga thì phải đầu tư công sức tiền bạc vào đó cho nhiều thì mới tạo thành được, chẳng thể tốn ít chi phí mà đòi chất lượng cao quy mô lớn được. Đức Phật ngài kiến lập quốc độ cũng vậy, chẳng thể ban bố ân đức ít hơn mà có thể tạo ra quốc độ thù thắng hơn [các cõi Phật khác] được. Có câu hỏi nhỏ đặt ra ở đây là, một vị Phật đã thành tựu Phật quả thì toàn bộ tự tánh làm Phật [trong mỗi chúng sanh] đã được hiển lộ trọn vẹn đầy đủ hết cả, vậy tại sao có sự sai khác [về quy mô, mức độ] sau khi thành tựu Phật quả, chẳng hạn về quang minh, về quốc độ kiếp lập, thệ nguyện... Bởi chúng ta biết rằng Tự tánh vốn đầy đủ, không thiếu thứ gì, vậy tại sao có sự sai khác như vậy, không lẽ tự tánh mỗi vị mỗi khác chăng [bởi tất cả tự tánh trong các vị Phật đều đã hiển lộ trọn vẹn đầy đủ]? Dạ vâng, đúng là trong mỗi chúng sanh đều có tự tánh giống nhau [và giống như Phật], và một khi cái tự tánh ấy được hiển lộ trọn vẹn [tức chứng Phật quả] thì tất cả các tánh đức trong đó đều hiển lộ đầy đủ cả, không thiếu thứ gì [trong các vị Phật ấy], nhưng vấn đề ở đây là tất cả đều có "đầy đủ", trọn vẹn cả thôi, tức không thiếu thứ gì cả, về mặt này thì tất cả [các vị Phật] đều hoàn toàn giống nhau, nhưng "đầy đủ" là một chuyện, còn mức độ, quy mô là một chuyện khác, chính cái này mới tạo ra sự khác biệt giữa các vị Phật, chứ không phải cứ đầy đủ [tự tánh] là đều 'vô lượng vô biên' hay 'không ngằn mé' hay 'khắp các cõi Phật'... [về quang minh, độ chúng sanh...] hết cả đâu , mà cái 'mức độ' này phụ thuộc vào sự phát nguyện, công đức tu tập hành trì, bố thí, mức độ phát tâm... khi còn tu nhân địa vậy.
Những cái về văn tự, ngữ nghĩa chúng ta đọc chú giải của các Ngài, phần còn lại chúng ta tiếp tục nói một chút về việc tu trì, gầy dựng Tín Nguyện tâm khi tu tập. Chúng ta đã biết trong Di Đà Bổn Nguyện [tức Đại Nguyện 18] có hai chỗ đáng lưu tâm nhất, đó là "nãi chí thập niệm" ["cho đến mười niệm", "nhẫn đến mười niệm"] và "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác", bởi đây chính là những điều kiện về mặt hành trì ["nãi chí thập niệm"] và về mặt dụng tâm ["nguyện sanh ngã quốc" và "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác"]. Chúng ta phải đáp ứng đầy đủ cả hai mặt này thì mới đảm bảo thành tựu [tức chắc chắn thành tựu]. Về mặt hành trì thì đối với hành giả đã phát tâm như chúng ta thì yêu cầu phải là "niệm" [suốt đời còn lại] trong cái "nãi chí thập niệm" này [cho đến hạng thấp nhấp, bét, thì cũng phải "thập niệm"], chúng ta phải lưu tâm chỗ "nãi chí", tức "cho đến", "nhẫn đến", dạ đừng có mà bỏ qua cái từ này nha, nó quan trọng và có ý nghĩa lắm đấy, cái từ này ý là sao? Rằng là tất cả các hạng chúng sanh, không sót hạng nào cả, đều phải "niệm", không thể thiếu cái Hạnh này, chữ "nãi chí" này nghĩa là như vậy, tức là tất cả ['phổ quát' từ cao nhất đến thấp nhất], "cho đến" hạng bét, thấp nhất. Nếu bỏ qua từ này, chỉ còn "thập niệm", vậy thành ra tất cả các hạng đều giống nhau hết, như thế lập tức sẽ nghĩ ngay đến đây là "mười niệm" dành cho lúc lâm chung, bởi chỉ có lúc lâm chung đó thì [điều kiện] mới giống nhau như vậy, bởi ai rồi cũng đi đến cái giây phút cuối cùng ấy, nên 'gán' cho như vậy là quá hợp lý rồi còn gì, rằng đó là điều kiện đồng cho tất cả vậy. Nếu như vậy thì Phật nói "nãi chí" để làm gì? Bởi "một niệm, mười niệm" [cuối cùng] đó, là không thể thiếu đối với tất cả. Hay nói rõ hơn, cho dù hành giả có niệm cả đời, hay một năm, một tháng, một ngày... thì đến lúc cuối cùng ấy vẫn phải là "mười niệm" [cuối] không thể thiếu, chứ đâu phải gần đến lúc cuối đó niệm được nhiều hay rất nhiều nhưng đến những giây phút cuối cùng thì bị bỏ lững không niệm được nữa, thế thì vẫn là hỏng bét, như vậy cái con số nhiều hay thật nhiều niệm 'thêm vào trước' kia [tức là "cho đến", hiểu theo nghĩa lý này] hoàn toàn vô dụng chẳng có tác dụng gì ở đây [nếu thiếu đi "mười niệm" cuối]. Nói cách khác, chỉ có "mười niệm" [cuối cùng] này mới có ý nghĩa, có vai trò đích thực ở đây, còn trước đó dù có niệm hay chẳng niệm, niệm nhiều hay niệm ít [tức chỗ "nãi chí"] thì chẳng liên cang, chẳng có giá trị gì ở đây cả, bởi có chúng hay chẳng có chúng đâu có ý nghĩa gì, đâu có vai trò gì ở đây đâu [đối với việc vãng sanh], mà việc thành tựu hoàn toàn nằm ở chỗ "thập niệm" [cuối cùng] vậy, rằng có [thập niệm đó] thì có vãng sanh, không [thập niệm đó] thì không vãng sanh, đơn giản chỉ có vậy, còn những niệm phía trước đó [nãi chí] hoàn toàn vô hại, chẳng có tác dụng gì, có hay không có cũng vậy. Như vậy [Phật] nói thế để làm gì?
Chúng ta phải phân tích cặn kẻ như vậy để đả phá đi cái 'tà kiến' rằng chỗ "nãi chí thập niệm" đó vẫn có thể hiểu theo kiểu đó là mười niệm dành cho lúc lâm chung [tức hiểu theo kiểu lúc đó niệm càng nhiều càng lâu càng tốt cho đến cuối cùng, mà tối thiểu là được mười niệm cuối cùng]. Cho nên nếu không soi xét cho kỹ thì rất dễ hiểu lầm rằng hiểu [theo cách ấy] vẫn là rất hợp lý, logic. Nhưng như trên đã phân tích thì [nếu hiểu] như thế thì chữ "nãi chí" đó hoàn toàn dư thừa, không có một chút ý nghĩa hay tác dụng gì cả [mà chỉ cần "thập niệm" là đủ]. Cho nên để đả phá đi một tà kiến gì đó không phải chuyện dễ, phải nói sao cho hợp lý, chính xác, mới thuyết phục được người ta, chứ không đơn giản [chẳng hạn như trên thì không lẽ Phật thuyết thừa ra hai chữ "nãi chí", hoàn toàn vô hại, chẳng có tác dụng gì [về nghĩa lý] ư?]. Chúng ta nên nhớ rằng "Ly Kinh nhất tự tức đồng ma thuyết", chứ chẳng chơi, rằng đừng nói Kinh giáo mà có thể thêm hay bớt [mà vẫn chẳng thay đổi ngữ nghĩa], hay Phật thuyết 'bị dư', nhất là những chỗ tối quan trọng, mang ý nghĩa Tông yếu như ở đây.
Đó là nói về hành trì, còn về Tín tâm thì như đã nói nhiều lần, cứ 'bê nguyên xi' ra mà dụng thôi, chẳng cần liễu nghĩa hay giải thích gì nữa, rằng Phật thuyết sao thì cứ y như vậy mà tin tưởng [chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác"] và hành trì theo thôi [tức "niệm"], cầu sanh về cõi ấy [tức "nguyện sanh ngã quốc"]. Nói thêm, riêng cái "nguyện" này, với các pháp khác thì rất đáng sợ [như Pháp Biên Địa], chứ còn với Pháp Tín Nguyện Niệm Phật này thì một khi có Tín tâm đầy đủ chẳng nghi thì chắc chắn đã bao hàm cái "nguyện" chân thật trong đó rồi, bởi không ai mà tin chắc [mình được về] mà lại không có cái nguyện muốn về cả, hay nói rõ hơn một khi đã tin chắc chẳng nghi [được về] thì không có cái gì chẳng thể xả bỏ để vể cả [bởi nếu không như thế tức là tâm còn dính mắc, còn có cái làm cho 'sợ' không được về, như thế thì sao 'tin chắc' cho được]. Bởi vậy một khi có Tín tâm chân thật chẳng nghi thì tự nhiên cũng có khả năng 'chặt đứt' được mọi cái dính mắc, ràng buộc, để có thể buông bỏ tất cả [khi cần]. Cho nên rằng, khác đường lối là khác tư tưởng, cách thức dụng tâm, còn hành trì hay hình tướng tu trì bên ngoài thì có vẻ khá giống nhau. Bởi vậy một khi theo đường lối khác [chẳng hạn Pháp Biên Địa] thì làm sao hiểu được cái tư tưởng, cách dụng tâm của Pháp Tín Nguyện niệm Phật, thật sự vậy, không hiểu nổi đâu, trừ phi chuyển đổi, thay đổi từ trong tư tưởng, rồi học tập, kiến giải, hiểu vấn đề theo một nghĩa lý khác thì mới được. Cho nên Phật đã nói tuyệt không sai đâu được, một khi đã dính vào cái "tà kiến" rồi thì thôi, nếu không chịu 'tháo gỡ' ra thì chỉ còn có cái cứu cánh duy nhất, vâng, với dạng này thì Pháp Biên Địa đúng là Pháp cứu cánh thật sự vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 29. Nguyện Lực Hoằng Thâm
Ngài Hoàng Niệm Tổ
