Chẳng nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì thật sợ
Nhận được thư đầy đủ. Quang là một ông Tăng vô tri vô thức chỉ biết cơm cháo, chỉ yên phận ngu hèn, chỉ biết tu trì Tịnh nghiệp để mong cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Nếu hai vị chẳng muốn làm đại thông gia thì sẽ chẳng đến nỗi vì Quang tầm thường, kém cỏi khiến cho những điều quý vị mong mỏi bị lỡ làng. Nếu muốn làm đại thông gia thì đã hoàn toàn trông cậy không đúng người rồi! Tuy nhiên, làm bậc đại thông gia há phải là chuyện dễ nói hay sao? Dẫu có đạt được mà chẳng nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì thật sợ sẽ từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo! Ấy là vì cậy vào tự lực để liễu sanh tử đem so với cậy vào Phật lực để liễu sanh tử thì sẽ giống như sự khác biệt giữa ngày và kiếp vậy!
Vừa gặp trận mưa sanh tử liền rã thành bùn đất!
Kẻ biết tốt - xấu chớ nên phỏng theo chí nguyện của bậc hành Bồ Tát đạo đã liễu sanh tử, mà cần phải chắc chắn được vãng sanh Tây Phương ngay trong đời này! Đã vãng sanh Tây Phương rồi mới học theo [chí nguyện những bậc hành Bồ Tát đạo đã liễu sanh tử] thì sẽ hữu ích. Nếu chưa vãng sanh mà đã bắt chước ngay thì sẽ giống như chén bát chưa nung, vừa gặp trận mưa sanh tử liền rã thành bùn đất! Trong cõi đời thường có những kẻ thích ăn to nói lớn, tự coi mình có thân phận giống như Phật, Bồ Tát, chỉ trở thành hạng tự lầm, lầm người mà thôi! Xin hai vị hãy suy nghĩ sâu xa!
Nếu những kẻ làm cha mẹ trong cõi đời ai nấy đều khéo dạy dỗ con cái thì...
Người học Phật ắt phải ai nấy giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận. Nói đến “bổn phận”, chính là cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành v.v… Nếu ai nấy đều trọn hết phận mình thì thiên hạ sẽ tự thái bình, nhưng trong ấy chỉ có chức phận cha mẹ là có quan hệ trọng yếu nhất. Nếu những kẻ làm cha mẹ trong cõi đời ai nấy đều khéo dạy dỗ con cái thì những kẻ quấy rối mù quáng và những kẻ ương bướng kém hèn, chẳng tuân theo pháp tắc sẽ đều trở thành hiền nhân, thiện nhân, đâu đến nỗi có chuyện xâm lăng, cướp đoạt, tàn sát lẫn nhau? [Câu nói] “thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm” chính là nói về sự giáo dục trong gia đình sao cho con cái đều thành lương thiện. Những điều vừa nói trên đây tuy là những lời lẽ tầm thường, nhưng hễ phân tích rõ ràng thì cố nhiên đã bao quát sạch hết không còn.
Tuy ở trong rừng súng mưa đạn vẫn trọn chẳng bị thương vong
Hai vị đang là sĩ quan, càng phải nên giữ nghiêm kỷ luật, nêu gương tốt đẹp cho quân lính. Ấy chính là như thường nói: “Dùng lời nói để dạy sẽ bị tranh cãi, dùng thân để dạy người ta sẽ thuận theo”. Không một chuyện nào trong thế gian chẳng lấy thân làm gốc. Đối với binh sĩ, hãy nên đối đãi bằng lòng chân thành, ra rả răn nhắc, khiến cho bọn họ ai nấy đều giữ chí “trừ bạo, an lương, bảo vệ trăm họ”, coi người khác như chính mình, coi mình giống như người khác, đừng khinh lấn, xâm đoạt lẫn nhau, coi phụ nữ của người khác như chị em gái của chính mình, chẳng dám khởi vọng niệm trái phận! Ắt mong sao chẳng cô phụ chức phận “bảo vệ đất nước, dân chúng” thì đội quân ấy chẳng đáng gọi “đạo đức quân, nhân nghĩa quân” ư? Dùng quân đạo đức nhân nghĩa để chế ngự địch quân thì không ai đối địch được, ắt sẽ luôn đắc thắng. Vì thế Khổng Tử nói: “Ngã chiến tắc khắc” (Ta cầm quân chắc chắn thắng trận), chính là nhằm diễn tả ý này. Trong cõi đời gần đây, năm nào cũng có chiến sự, đa phần những ai hơi mang lòng nhân từ trung tín và niệm kinh, niệm Phật thì tuy ở trong rừng súng mưa đạn vẫn trọn chẳng bị thương vong. Đấy chính là hiệu quả vậy.
Hai vị đã muốn quy y thì nay tôi sẽ thuận theo ý muốn mà đặt pháp danh. Nếu sau này biết tôi vô tri vô thức, chẳng đáng làm thầy, lại bái bậc cao nhân khác thì quả thật tôi cũng rất vui lòng. Tiết Anh Huệ pháp danh là Tông Huệ. Tông là chủ; nghĩa là nhất cử, nhất động đều lấy trí huệ làm chủ thì không gì chẳng tốt lành, không gì chẳng khế hợp với tâm tích của thánh nhân thế gian và Phật, Bồ Tát xuất thế gian. Lưu Nhất Hạc pháp danh là Tông Nhất. Nhất là thuần nhất, không vọng. Trong tâm thường thuần đạo đức nhân nghĩa, không có vọng niệm nào khác trái nghịch với đạo đức nhân nghĩa thì sẽ đáng gọi là đệ tử thật sự của Nho, của Phật. Dùng những điều ấy để dắt dìu người khác, cố nhiên sẽ chẳng khó gì khiến cho đây - kia đều có cùng một đức vậy.
Hiện nay, thiên tai nhân họa thường liên tiếp xảy ra, ắt phải thường lấy tín nguyện niệm Phật và niệm Quán Âm để tự hành, dạy người, để mong khi sống sẽ tiêu trừ nghiệp chướng, cao dự vào bậc thánh hiền, khi mất sẽ cậy vào Phật từ lực lên thẳng cõi Cực Lạc, ngõ hầu chẳng phí cuộc đời này và chẳng uổng dịp gặp gỡ này! Những điều khác đã nói tường tận trong các sách như Văn Sao v.v… ở đây không viết cặn kẽ. Nếu muốn xem các sách thì có thể thỉnh từ chỗ ông Điền Thân Phủ ở số tám mươi sáu phường Thái An, thành phố Hán Khẩu.
Ba phương thuốc cai nghiện á phiện, trị bệnh sốt rét, [chó dại cắn] v.v… đã in trong tháng Chạp năm ngoái rất linh nghiệm, mà bệnh sốt rét là bệnh thường phát ra nhiều nhất trong khoảng Hạ - Thu. Toa thuốc này chẳng tốn một đồng mà chẳng ai không được trị lành. Do vậy, đính kèm hai trương để bảo rộng rãi với mọi người, đấy cũng là một cách làm lợi cho người khác. Quang đã bảy mươi hai tuổi rồi, sáng chẳng đảm bảo được tối. Hơn nữa, vẻ suy tàn đã hiện, tinh thần chẳng đủ, chỉ mong hai ông dựa theo Văn Sao để tu trì, đừng gởi thư tới nữa do sức khó thể thù tiếp được, chứ không phải là chẳng muốn nói với người khác. Dẫu có nói tường tận thì làm sao đầy đủ bằng một bộ sách cho được? (Mồng Năm tháng Tư)

Nam Mô A Di Đà Phật
Đoạn đầu: Tuy nhiên, làm bậc đại thông gia há phải là chuyện dễ nói hay sao? Dẫu có đạt được mà chẳng nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì thật sợ sẽ từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo!
Thế nào được gọi là bậc 'đại thông gia'? Đó là các vị tinh thông Kinh văn, giáo lý, nói chung hỏi cái gì cũng nói được nhưng có điều chưa chắc đúng, nguyên nhân tại sao như vậy? Đó là do chỉ giỏi về Lý, chứ không giỏi về Sự, Sự Lý không viên dung, hay nói rõ hơn là dạng nói được nhưng làm không được, cho nên cái lý thuyết đó trở thành sáo rỗng, kiểu gì cũng có sự lầm lạc, phi thực tế trong đó. Đối với Tịnh Độ Tông thì đó là dạng không có "thọ trì", tức chỉ giỏi 'độ người' nhưng chẳng thể 'độ mình', nhưng thật ra cũng chẳng thể độ người được, bởi chỉ toàn 'lý huyền lý diệu' mà thôi, không đúng với Kinh giáo. Cho nên biết nhiều là một chuyện, còn "thọ trì" được hay không lại là chuyện khác, cái học trong đạo nó khác hẳn với cái học của thế gian là vậy. Dạng như này nói người khác có tin theo không? Rất dễ tin là khác, họ có thể 'thao thao bất tuyệt', và có thể khiến đại chúng hâm mộ, thán phục và cả ngộ nhận, bởi đa phần cứ nhầm việc học đạo giống như việc học kiến thức của thế gian vậy, tức cứ cho rằng càng học cao hiểu rộng đó thì đạo tâm đạo lực càng cao. Tuy nhiên thực tế lại không như vậy, những kiến thức, văn tự, câu chữ đó chỉ là giỏi trên 'miệng' mà thôi, chứ một khi 'sanh tử' xảy đến thì đừng nói dùng 'cái miệng' đó mà đỡ được, mà đừng nói chi đến sanh tử, chỉ một chút nghiệp lực xảy đến thôi thì toàn bộ những kiến thức văn tự [sáo rỗng] đó hoàn toàn vô dụng, chẳng có lực dụng gì cả, giống như đang đói bụng cầm cái 'bánh vẽ' lên để ăn vậy. Chúng ta nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp những kiến thức, những giáo lý này kia, nhưng rằng những giáo lý đó chỉ hữu dụng khi để "thọ trì", chứ còn chỉ trên lời nói hay trên giấy mực không thôi thì chưa khởi tác dụng được vậy.
"Nương theo tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương" tức nương theo cái Pháp tông chỉ này, hay chúng ta hay nói là nương theo Di Đà Bổn Nguyện vậy. Thật sự rằng với hàng phàm phu như chúng ta mà chẳng nương theo cái Pháp tông chỉ này để cầu vãng sanh thì khả năng cao sẽ bị 'ở lại lớp', như các Ngài nói "thật sợ sẽ từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo", thật sự vậy. Bởi với bậc Thánh nhân hay Thượng trí thì có thể nương vào cái Pháp cầu công phu Nhất tâm bất loạn, còn như phàm phu chúng ta thì chẳng thể với tới được, hoặc giả chỉ một số rất ít đạt được [một phần ngàn, phần vạn], vậy số lượng còn lại đi đâu về đâu? Còn như cầu ở Pháp Biên Địa, tức dạng Tín Nguyện tâm không đủ [hay đặt niềm tin không đúng chỗ do hiểu sai nghĩa lý], mà hiện nay đa phần các Ban hộ niệm thực tế là đang áp dụng cái Pháp này [còn Pháp Tín Nguyện niệm Phật rất ít được áp dụng], thì hiện trạng thế nào chúng ta cũng đã biết rồi, phần đông chỉ là cầu mong có được 'thân thể mềm mại, thoại tướng đẹp', như thế đã là thành công [cho ca Hộ niệm], nói chung với các Pháp này được vãng sanh là một cái gì đó rất 'xa xỉ' hay dạng 'hiếm có khó tìm', chứ chẳng thể là một sự đảm bảo chắc chắn được, rằng họ chỉ cố gắng giúp người được về cảnh giới an lành thôi, như thế đã là một sự nổ lực quá sức với họ rồi vậy. Bởi vậy các Ngài đã nói ra rả mà chẳng chịu nghe, nương vào sức Phật không chịu cứ thích nương vào sức người [chẳng hạn như Ban hộ niệm], sức người mà đòi so đọ với sức Phật chăng? Mà để được nương vào sức Phật là khó hay dễ? Câu trả lời là chẳng khó cũng chẳng dễ, rằng có thể khó hay rất khó với người này nhưng lại không khó với người khác, vậy để nương được thì phải làm sao? Rất đơn giản thôi, theo trong lời Kinh Phật thuyết thì cứ tin tưởng chẳng nghi Lời Thề Nguyện của Phật [tức Di Đà Bổn Nguyện] hay cụ thể hơn là cứ tin lời Phật Thích Ca thuyết [lại cái Bổn Nguyện đó], cùng chân thật hành trì, thì sẽ 'nương' được thôi, thật sự chỉ có vậy. Bởi coi vậy thôi chứ với nhiều người lại là chuyện khó làm lắm đấy, bởi tại sao? Bởi với họ thì phải cái gì đó thật phức tạp, phải thật khó khăn, phải thật cao siêu [càng cao siêu càng tốt, đến không với tới được luôn], như thế họ mới chấp nhận, chứ còn những điều bình thường, trong khả năng thì họ nhất định không chịu tin theo. Bởi họ luôn cho rằng vãng sanh là việc của hàng Thánh nhân hay thượng căn thượng trí gì đó mà trong hàng ngàn hàng vạn trường hợp may ra mới được một. Thật sự rằng nếu cứ nghĩ như thế thì thôi... bỏ tu luôn cho rồi chứ tu chi cho mất công vậy [bởi có thành tựu được đâu], còn ai đó thuyết giảng như thế thì cũng nên nghỉ luôn cho khỏe, bởi truyền giáo như thế chỉ tổ hại người chứ lợi lạc được gì cho người đâu.
Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Thư trả lời hai vị cư sĩ Tiết Anh Huệ và Lưu Nhất Hạc
Đại Sư Ấn Quang
