Chẳng biết sự lớn - nhỏ, khó - dễ giữa Phật lực và tự lực chẳng thể dùng ngôn ngữ, văn tự để hình dung được!
Pháp môn Tịnh Độ lớn lao không gì ra ngoài được, như trời che khắp, dường đất chở đều. Trên là bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra khỏi pháp này, dưới là tội nhân nghịch ác cũng có thể dự vào trong ấy. Thật đáng gọi là “pháp môn tổng trì của tam thế chư Phật, là đạo đặc biệt mầu nhiệm trong cả một đời giáo hóa của đức Như Lai”. Pháp môn này lớn lao, thâu nhiếp căn cơ rộng rãi, dùng sức ít mà đạt hiệu quả nhanh chóng, nhưng thường bị những kẻ hơi thông hiểu Tông - Giáo xem nhẹ, coi là pháp môn dành cho lũ ngu phu ngu phụ tu trì, chẳng biết sự lớn - nhỏ, khó - dễ giữa Phật lực và tự lực chẳng thể dùng ngôn ngữ, văn tự để hình dung được! Bởi lẽ, hết thảy các pháp môn đều phải nương vào sức Giới - Định - Huệ để tu tới địa vị “nghiệp tận, tình không” thì mới có phần liễu sanh tử. “Nghiệp tận, tình không” há nói dễ dàng ư? Đoạn Kiến Hoặc giống như cắt đứt dòng nước chảy xiết rộng bốn mươi dặm, huống là Tư Hoặc ư? Dẫu cho kiến địa cao sâu, hễ Phiền Hoặc chưa đoạn thì vẫn luân hồi y như cũ. Nếu thọ sanh lần nữa thì người lui sụt trong vạn kẻ có đến mười ngàn, người tăng tấn trong ức kẻ hiếm khi có tới ba bốn người! Tự lực chẳng đủ để nương tựa, dám khoe khoang trí mình, chẳng tùy thuận đạo thệ nguyện nhiếp thọ của Như Lai ư?
Chẳng thể đem đạo lý của hết thảy pháp môn thông thường để bàn luận pháp môn này được
Người tu pháp môn Tịnh Độ chỉ cần có đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, chí thành khẩn thiết, như con nhớ mẹ mà niệm, những hành vi trong thường nhật đều chẳng trái nghịch Phật Pháp lẫn tình nghĩa thế gian thì lúc lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Dẫu là kẻ chưa đoạn được Hoặc nghiệp mảy may nào, hễ được đới nghiệp vãng sanh thì sở đắc của kẻ ấy còn cao trỗi hơn bậc A La Hán nghiệp tận tình không, vì chủng tánh bất đồng vậy! Huống hồ bậc đã đoạn [được Hoặc nghiệp] thì cần gì phải nói nữa! Bởi lẽ, Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, chúng sanh tâm lực chẳng thể nghĩ bàn. Hai sức chẳng thể nghĩ bàn là Phật lực và pháp lực cùng hợp lại khiến cho tự tâm lực được hiển hiện trọn vẹn (loại tự lực này rất khác với loại tự lực chẳng cậy vào Phật lực và pháp lực), cho nên so với kẻ chuyên cậy vào tự lực sẽ giống như hằng hà sa số lần sự khác biệt vời vợi giữa trời và vực. Do vậy, biết: Chẳng thể đem đạo lý của hết thảy pháp môn thông thường để bàn luận pháp môn này được, bởi nó là pháp môn đặc biệt.
Tôi thường có một cặp câu đối như sau:
Pháp môn quảng đại, phổ bị tam căn, nhân tư cửu giới đồng quy, thập phương cộng tán.
Phật nguyện hồng thâm, bất di nhất vật, cố đắc thiên kinh tịnh xiển, vạn luận quân tuyên.
(Pháp môn rộng lớn, độ khắp ba căn, do vậy chín giới cùng hướng về, mười phương chung khen ngợi,
Phật nguyện to sâu, chẳng sót một ai, nên được ngàn kinh đều xiển dương, muôn luận cùng tuyên nói).
Bốn mươi mốt địa vị đều nhất trí tiến hành, vâng theo lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy
Theo phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm, trọn hết các bậc Pháp Thân đại sĩ trong Hoa Nghiêm thế giới hải như Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, bốn mươi mốt địa vị đều nhất trí tiến hành, vâng theo lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy, dùng công đức của mười đại nguyện vương cầu sanh Tây Phương nhằm mong viên mãn Phật quả. Những kẻ khoe khoang trí mình, miệt thị Tịnh Độ, tưởng chính mình vượt trỗi những vị Bồ Tát ấy, chính là mất trí điên cuồng, cầu thăng hóa đọa, biến khéo thành vụng!
Dẫu bị những vị đại trí huệ chê bai, thóa mạ đều chẳng bận lòng!
Những kinh sách hoằng dương Tịnh Độ nhiều khôn kể xiết. Đại sư Như Sầm tập hợp những ngôn luận của chư Phật, Bồ Tát, tổ sư và những Tịnh nghiệp học nhân trong thời gần đây (những vị tri thức trong đời gần đây xưng là “học nhân” vì trước đấy đã có Phật, Bồ Tát, các vị tổ sư, xin đừng nghi ngại, kinh ngạc), đặt tên là Tư Quy Tập, cậy Quang viết lời tựa. Quang lúc bé chẳng nỗ lực, về già chẳng làm được gì, chỉ đành viết ra những nghĩa lý chính mình đã tin tưởng trong suốt năm mươi chín năm cho xong trách nhiệm, nhằm giãi bày lòng ngu thành, mong cho những người cùng hàng đều được sanh về Tây Phương, dẫu bị những vị đại trí huệ chê bai, thóa mạ đều chẳng bận lòng! Do vậy bèn ca rằng:
Ưng đương phát nguyện, nguyện vãng sanh,
Khách lộ, khê sơn, nhậm bỉ luyến,
Tự thị bất quy, quy tiện đắc,
Cố hương phong nguyệt hữu thùy tranh?
(Nẻo khách, suối non mặc người luyến,
Hãy nên phát nguyện, nguyện vãng sanh,
Tự mình chẳng về, về liền được,
Gió trăng quê cũ há ai giành?)
Xin những vị mong nghĩ trở về [quê cũ] đều chú ý!
(Ba ngày trước tiết Đông Chí năm Kỷ Mão, tức năm Dân Quốc 28 - 1939)

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà bằng gỗ trắc.
Đoạn đầu: Pháp môn Tịnh Độ lớn lao không gì ra ngoài được, như trời che khắp, dường đất chở đều. Trên là bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra khỏi pháp này, dưới là tội nhân nghịch ác cũng có thể dự vào trong ấy. Thật đáng gọi là “pháp môn tổng trì của tam thế chư Phật, là đạo đặc biệt mầu nhiệm trong cả một đời giáo hóa của đức Như Lai”.
Pháp môn Tịnh Độ phổ độ khắp chúng sanh, tức không có hạng chúng sanh nào không có phần trong đó, từ hạng thấp nhất cho đến bậc cao nhất trong cửu giới chúng sanh. Đó là xét theo chiều ngang, còn theo chiều dọc thì Tam thế ba đời Chư Phật đều hầu như cũng thành tựu Phật đạo từ Pháp môn này, rồi các vị Phật ấy lại triển chuyển không ngừng nghỉ cho các thế hệ nối tiếp nhau không dứt, và với cõi Ta Bà này Đức Phật Thích Ca xuất thế cũng là để thể hiện cái bổn hoài "phổ độ chúng sanh" ấy của Tam thế Chư Phật mà thôi. Thế cho nên các Ngài mới nói “pháp môn tổng trì của tam thế chư Phật, là đạo đặc biệt mầu nhiệm trong cả một đời giáo hóa của đức Như Lai”. Thât sự Pháp môn này mà để luận bàn thì ngàn vạn kiếp cũng chẳng thể nói hết được vậy.
Tiếp theo: Pháp môn này lớn lao, thâu nhiếp căn cơ rộng rãi, dùng sức ít mà đạt hiệu quả nhanh chóng, nhưng thường bị những kẻ hơi thông hiểu Tông - Giáo xem nhẹ, coi là pháp môn dành cho lũ ngu phu ngu phụ tu trì, chẳng biết sự lớn - nhỏ, khó - dễ giữa Phật lực và tự lực chẳng thể dùng ngôn ngữ, văn tự để hình dung được!
Vì sao Pháp môn này lại trở nên khó tin, không phải ai cũng có thể tin nhận được như vậy? Đơn giản là họ thiếu Phước Huệ, như Phật đã nói trong Kinh? Dạ thì chắc chắn là như thế rồi. Nhưng xét nguyên do về mặt lý của vấn đề, đó là do "dùng sức ít mà đạt hiệu quả nhanh chóng", tức hạng phàm phu mà cũng có thể vượt thoát sinh tử, siêu phàm nhập thánh chỉ trong một đời này, cho nên nếu ai đã quen với các giáo lý thông thường sẽ khó có thể chấp nhận được. Bởi với tự lực tu chứng [Giới - Định - Tuệ] thì hàng phàm phu phải trải qua muôn vạn kiếp không biết có liễu thoát được không [tức chỉ số rất ít thành tựu], còn đây chỉ trong một đời đã liễu thoát sanh tử, rồi lên đó chứng Bất Thoái này kia, tức sự thành tựu lại vượt trỗi hơn cái tự lực [trong ngàn vạn kiếp] kia, cho nên nếu cứ hiểu theo giáo lý các Pháp thông thường thì khó tin khó chấp nhận cũng là dễ hiểu, thế cho nên mới cần 'một chút' phước huệ từ xa xưa, trong nhiều đời nhiều kiếp đã tích lũy, mới có thể tin nhận được vậy. Bởi vậy, nói một đời thành tựu nhưng để chuẩn bị cho một đời đó là rất nhiều đời đã huân tập tích lũy vậy, chứ không đơn giản.
Đoạn tiếp: Người tu pháp môn Tịnh Độ chỉ cần có đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, chí thành khẩn thiết, như con nhớ mẹ mà niệm, những hành vi trong thường nhật đều chẳng trái nghịch Phật Pháp lẫn tình nghĩa thế gian thì lúc lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.
Nói chung thời nay tu Tịnh Độ cần Chánh - Trợ song tu [dạ chứ không nên nói Phước - Huệ song tu, nó rất tối nghĩa, bởi Phước là gì? Huệ là gì? Cái nào chính, cái nào phụ?], bởi thật sự căn cơ, hoàn cảnh thời nay phải cần như thế, mà cũng thích hợp như thế, nhất là dạng tu 'đường trường', còn dạng các cụ già, bậc cao niên thì chỉ cần cái Chánh thôi, Tín Nguyện niệm Phật thôi là đủ, nhưng nếu có thể thì vẫn tu Chánh trợ song tu cũng rất tốt, không vấn đề gì cả. Vì sao nói cần tu Chánh trợ? Bởi đơn giản là thực tế nó đang diễn ra như thế, giống như cái xu thế của xã hội, của thời đại nó là như vậy, không thể khác được, vậy nên chúng ta tu hành cũng phải 'tùy cơ mà ứng biến' vậy, chứ chẳng thể đi ngược lại với xu thế của thời đại được. Chẳng hạn, nói giờ tu nhập thất, đả thất, hay bế quan chuyên tu [niệm Phật], ngoài ra không động tới bất cứ thứ gì khác [kể cả với hàng xuất gia hay tại gia], cái này liệu có khả thi, với hạng còn trẻ khỏe, còn phải 'chiến đấu đường trường' có thể hàng mấy chục năm nữa? Mà đã nhập [thất] là nhập luôn nha [tức đến khi vãng sanh luôn], chứ đừng có kiểu 'nhập' rồi 'xuất', 'xuất' rồi 'nhập', đó chẳng đi tới đâu, chẳng được gì cả, chỉ rối chuyện. Cho nên, cứ 'bình thường là đạo' đi, tu ngay trong hoàn cảnh nhân duyên của mình hiện có đây này, chẳng cần vẽ vời ở đâu xa, thật sự đó là cách tu lâu bền nhất, vững chắc nhất và cũng chân thật nhất vậy [để đạt được thành tựu lúc cuối]. Thật sự rằng, thời đại hiện nay phải nhấn mạnh một chút chỗ Chánh Trợ song tu, đó là vì nghiệp duyên hiện nay quá hẫy hừng, tức tham, sân, si, mạn, nghi..., thế cho nên cần những pháp Trợ hạnh Trợ tu đủ mạnh để 'rèn dủa, uốn nắn' con người ta lại, với cái nữa là chúng sanh thời nay căn tánh đã chậm lụt nhiều [tức Phước Huệ cạn mỏng] cho nên cần 'bổ sung' cho nhiều vào, tu Phước Huệ cho nhiều vào, để có thể một đời này có thể thật sự "nghe" cái Pháp này, như trong Kinh Phật đã nói ["Nếu xa xưa không tu phước huệ, thì Chánh Pháp này không thể nghe"], chữ "nghe" ở đây có thể hiểu là nhân duyên bắt gặp và có thể tin nhận đầy đủ.
Tiếp tục: Bởi lẽ, Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, chúng sanh tâm lực chẳng thể nghĩ bàn. Hai sức chẳng thể nghĩ bàn là Phật lực và pháp lực cùng hợp lại khiến cho tự tâm lực được hiển hiện trọn vẹn (loại tự lực này rất khác với loại tự lực chẳng cậy vào Phật lực và pháp lực), cho nên so với kẻ chuyên cậy vào tự lực sẽ giống như hằng hà sa số lần sự khác biệt vời vợi giữa trời và vực.
Chỗ "Hai sức chẳng thể nghĩ bàn là Phật lực và pháp lực cùng hợp lại" sẽ thành ra cái gì? Đó chính là Phật Nguyện Lực [hợp từ Phật lực và Nguyện lực] hay còn gọi là sức Phật Thệ Nguyện, như ai tu tập mà nương được vào cái Sức này thì chắc chắn thành tựu, không còn nghi ngờ gì nữa. Bởi vì sao? Đơn giản là vì cái Sức mạnh này sẽ chiến thắng được mọi sức nghiệp của chúng sanh, khiến chúng không còn là 'bất khả tư nghì' nữa, cho nên dưới sự che chở gia trì của Phật Nguyện lực thì tâm lực của chúng sanh sẽ không bị chi phối, dẫn dắt, lôi kéo hay bị gây bức bách, khổ đau [lúc cận tử nghiệp] nữa, nhờ vậy mà thần trí sáng suốt, rõ ràng, bất loạn, rồi muốn chánh niệm [niệm Phật] thì chánh niệm, muốn chào tạm biệt người thân thì chào, muốn nói một lời khuyến tu gì đó thì nói, nói chung là rất tự tại, trước khi ra đi theo Phật về Tây. Cho nên các Ngài nói "khiến cho tự tâm lực được hiển hiện trọn vẹn", tức được che chở cho không còn bị nghiệp lực chi phối, bức bách nữa, hơn nữa còn được cường duyên, gia trì khiến cho tâm lực càng trở nên vượt trỗi lúc đó. Còn như dạng chẳng cậy vào những cái Tha Lực này thì đúng là hiểm nguy, bất định, không nói trước được gì, bởi nghiệp lực chúng sanh là bất khả tư nghì [đối với hàng phàm phu như chúng ta]. Thật sự có một điều là, hàng phàm phu như chúng ta chưa bao giờ chiến thắng được nghiệp lực [của chính mình], thật sự vậy, chứ nếu chiến thắng thì đã đâu còn trong luân hồi sanh tử khổ đau này nữa. Cho nên, nếu tu tập mà không chịu nương tựa vào các yếu tố Tha lực này thì hết sức rủi ro, hung hiểm chực chờ, không biết đâu mà lần được, nói chung là bất định, không nói trước được gì. Bởi vậy, tu hành thì phải tu cho đúng pháp đúng lý, mà Phật và Chư Tổ Sư các Ngài đã khuyên dạy, đừng có đi khác đường khác lối, cứ đúng đường lối Tông chỉ tông yếu mà đi, cứ giữ vững như vậy cả đời thì lâm chung chắc chắn được thành tựu. Bởi, đường ngay lối thẳng [chính thống] lại chẳng chịu đi, cứ thích đi đường vòng vèo, gập ghềnh hiểm nguy, 'cứu vớt' không, hoặc giả cứ thích ham cao chuộng xa, 'mơ mộng' những cái pháp cao chót vót không với tới nổi, còn những lời răn dạy chân thực, bình thường của các Ngài mà cứ hành trì, theo đuổi mãi, không đổi, thì đâu đến nổi, không được phẩm vị cao thì cũng phẩm vị thấp, cái quan trọng là một đời này được liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh vậy.
Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập, có những đoạn khai thị rất hay, rất ý nghĩa vậy.
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Lời tựa ấn hành tác phẩm Tư Quy Tập
Đại Sư Ấn Quang
