Khi Lâm Chung, Nương Theo Phật Từ Lực Vãng Sanh Tây Phương

 

 

NPSTD7

Khi Lâm Chung, Nương Theo Phật Từ Lực Vãng Sanh Tây Phương

Con người sống trong thế gian ắt phải trọn hết chức phận của chính mình. Có trọn được hết chức phận của chính mình thì mới chẳng phụ ân “trời che đất chở, mặt trời, mặt trăng chiếu soi, cha mẹ sanh thành, sư trưởng giáo huấn”. Nếu không, tuy mang tiếng là người, nhưng thật sự chẳng khác gì cầm thú cho lắm, sẽ thành phường sống uổng chết phí, tương lai trầm luân trong ác đạo, trọn chẳng có thuở thoát ra, chẳng đáng buồn sao? 

Nói tới chuyện trọn hết chức phận thì đối với thân phận nữ nhân, quả thật [chuyện ấy] có quan hệ lớn lao nhất nhưng trọn chẳng tỏ lộ dấu vết. Cõi đời bình trị hay loạn lạc, gia đình hưng thịnh hay suy sụp đều do nữ nhân có trọn hết chức phận hay không?

 

“Nghi gia”, “nghi thất”
Chức phận của nữ nhân như vừa mới nói đó chính là “hiếu thảo đối với bố mẹ chồng, hòa thuận với chị em dâu, giúp chồng dạy con” v.v… Bởi lẽ, [nữ nhân] có thể hiếu thảo, hòa thuận, ôn nhu, cung kính, đấy chính là “nghi gia”; có thể giúp đỡ chồng khiến cho đức hạnh lẫn nghề nghiệp của ông ta ngày càng tiến triển, lỗi lầm ngày một ít, đấy chính là “nghi thất”. Hễ nghi thất nghi gia thì con cái nhìn vào sẽ được cảm hóa, đều thành hiền thiện. Con cái đã thành hiền thiện thì từ đấy trở đi, con cháu đời đời đều thành hiền thiện.

 

“Dạy con là cái gốc để trị quốc bình thiên hạ"
Vì thế, Quang thường nói: “Quyền trị quốc bình thiên hạ, bọn nữ nhân nắm quá nửa”. Lại nói: “Dạy con là cái gốc để trị quốc bình thiên hạ, nhưng dạy con gái lại càng quan trọng hơn”. Nếu không, chẳng những [nữ nhân] không thể giúp chồng dạy con thành người lành được, mà ngược lại sẽ giúp chồng dạy con thành kẻ ác đến nỗi trở thành tình thế vô pháp vô thiên như trong ngày nay!

 

Chỉ cần chịu sanh lòng chân thật, phát nguyện thiết tha, xưng niệm vạn đức hồng danh...
Các bà đều có thiện căn từ đời trước, được làm vợ chồng với Huệ Dung. Tuy sanh nhằm thời Phật pháp tàn diệt, nhưng may mắn được nghe pháp môn Tịnh Độ là pháp môn phổ độ chúng sanh của đức Như Lai! Chỉ cần chịu sanh lòng chân thật, phát nguyện thiết tha, xưng niệm vạn đức hồng danh của A Di Đà Phật, chắc chắn sẽ tiêu trừ Hoặc nghiệp, tăng trưởng thiện căn trong đời này. Khi lâm chung, nương theo Phật từ lực vãng sanh Tây Phương, quả thật là vô thượng đại pháp chẳng dễ gì gặp được trong ngàn đời vạn kiếp!

Các bà đã là chị em với nhau qua tình vợ chồng, ắt phải yêu thương, kính trọng lẫn nhau, khuyên răn, khích lệ lẫn nhau. Chớ nên giống bọn nữ nhân vô tri chưa nghe biết đạo: Hằng ngày cứ chuyên tranh cãi, ghen ghét, báng bổ, hạ nhục lẫn nhau. Như thế thì tâm địa ngày một tối tăm, phước - thọ ngày một thu hẹp, khi một hơi thở ra không hít vào được nữa sẽ khó khỏi đọa lạc trong ba ác đạo. Nỗi khổ ấy chẳng thể nào diễn tả được đâu!

 

Nay giảng đại lược nguyên do...
Các bà đã cùng quy y, tức là đồng môn, đồng tu Tịnh nghiệp, tương lai cùng sanh Tịnh Độ, cùng thấy A Di Đà Phật, cùng nghe Phật pháp, cùng chứng vô thượng đạo. Trong lúc này mọi người đều cùng đồng tâm tận lực tu trì, há chẳng gắng công ư? Do Huệ Dung muốn cho hai người quý vị cùng được thấm nhuần sự giáo hóa của Phật nên mới xin Quang đặt pháp danh cho hai bà và khai thị. Vì vậy, tôi mới nói dài dòng như thế, thật sợ các bà tự nghĩ mình kém hèn, nhỏ nhoi, chẳng biết một niệm tâm tánh của chúng sanh và Phật trọn chẳng khác gì, nhưng do mê - ngộ khác nhau đến nỗi khác biệt vời vợi một trời một vực. Nay giảng đại lược nguyên do, những điều khác đã nói tường tận trong Văn Sao, Gia Ngôn Lục, hãy xin Huệ Dung giảng cho các bà thì sẽ đều biết rõ vậy.

TƯỢNG QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT GG65675499

Ảnh: Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ở thành phố Tam Á, đảo Hải Nam, Trung Quốc, là pho tượng cao thứ tư thế giới, 108m.

Đoạn đầu: Con người sống trong thế gian ắt phải trọn hết chức phận của chính mình. Có trọn được hết chức phận của chính mình thì mới chẳng phụ ân “trời che đất chở, mặt trời, mặt trăng chiếu soi, cha mẹ sanh thành, sư trưởng giáo huấn”.

Chỗ "trọn hết chức phận của chính mình", coi ngắn gọn vậy chứ không phải đơn giản. Đó chính là "cha từ, con hiếu, chồng xướng, vợ theo, anh nhường, em kính, chủ nhân từ, tớ trung thành...", nói chung cả đối nội đối ngoại trong gia đình ngoài xã hội, công việc, cộng đồng, xóm giềng v.v... tất cả đều phải trọn hết trách nhiệm, bổn phận của mình, chứ không chỉ riêng có trong gia đình nhỏ của mình hay họ hàng quyến thuộc không thôi. Cho nên mới nói giữa Đạo và Đời phải song hành, tương trợ cho nhau vậy, tức dùng những đạo lý trong Phật học để đem áp dụng vào đời sống, sinh hoạt, công việc thường ngày, để sống tốt đời đẹp đạo, tự lợi lợi tha, từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.

[Như thế] thì mới chẳng phụ ân “trời che đất chở, mặt trời, mặt trăng chiếu soi, cha mẹ sanh thành, sư trưởng giáo huấn”, đó là thế nào? Tức nói thẳng ra [như thế] thì mới xứng là "con người", hay mới là con người đúng nghĩa, như thế thì mới chẳng phụ ân [và được] "“trời che đất chở, mặt trời, mặt trăng chiếu soi...", mới xứng là cùng Trời, Đất xưng là Tam Tài vậy. Điều này đặc biệt quan trọng trong tu học, đó chính là cái tâm 'biết ơn, nhớ ơn, đền ơn', trong tu học không thể thiếu cái tâm này được, nếu khiếm khuyết cái tâm này là đường đạo sẽ bị 'lệch pha' ngay, chẳng thể duy trì, bền vững và phát triển lên được, hoặc giả sẽ gia nhập hàng tà ma ngoại đạo ngay, nếu chẳng biết vun bồi, học tập, nâng cao những điều này. Vì sao vậy? Bởi điều này nó thuộc về Tánh Đức của con người, đó chính là lòng Nhân, phát triển lớn mạnh cái tâm này thì mới dần khế hợp với tâm Phật [tự tánh chúng sanh], mà trái nghịch tâm này là trái nghịch tâm Phật, trái ngịch tự tánh làm Phật trong mỗi chúng sanh vậy.

Đoạn tiếp: Chức phận của nữ nhân như vừa mới nói đó chính là “hiếu thảo đối với bố mẹ chồng, hòa thuận với chị em dâu, giúp chồng dạy con” v.v… Bởi lẽ, [nữ nhân] có thể hiếu thảo, hòa thuận, ôn nhu, cung kính, đấy chính là “nghi gia”, có thể giúp đỡ chồng khiến cho đức hạnh lẫn nghề nghiệp của ông ta ngày càng tiến triển, lỗi lầm ngày một ít, đấy chính là “nghi thất”.

Ông bà ta có câu rằng, "đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm", tức là nhà có to rộng, đẹp đẽ hay không là nhờ ở sức đàn ông, tức ông chồng, người cha trong gia đình, ý là đàn ông là kinh tế chính trong gia đình, còn gia đạo trong gia đình như thế nào, liệu có 'ấm cúng' hay không là nhờ vào người nữ, tức người vợ người mẹ, biết chăm lo vun vén cho gia đạo ra sao. Rồi hơn nữa người vợ phía sau có thể cùng chồng cáng đáng, hay khuyên lơn, bảo ban, khích lệ cho chồng chu toàn trong công việc, sự nghiệp nữa, cùng chồng chung vai sẻ gánh, làm nơi chốn bình an, sẻ chia những khó khăn vất vả trong công việc, cuộc sống cùng chồng, để vợ chồng là điểm tựa cho nhau ở mọi lúc mọi nơi, từ những lúc bình an cho tới những khi gập ghềnh, khó khăn của cuộc sống, đặc biệt là cùng nhau nuôi dạy con cái trở thành những con người hiền thiện, hiếu thảo, vâng lời, sống có trách nhiệm đối với gia đình, xã hội. Mặt khác vợ chồng phải nên đồng chí đồng hành cùng dìu dắt nhau trên con đường tu đạo cầu giải thoát, ai phát tâm trước thì phải có trách nhiệm trợ duyên trợ lực, hướng dẫn dìu dắt người kia cùng biết tu tập, ngõ hầu một đời này được đồng giải thoát, vãng sanh Cực Lạc, liễu thoát sanh tử. Ở đây thông thường là người nữ phát tâm sớm trước, cho nên họ phải có trách nhiệm dìu dắt hướng dẫn chồng con đi vào đường đạo, cùng tu tập cùng thành tựu giải thoát trong đời, đây mới thật sự là “nghi gia”, "nghi thất" một cách viên mãn vậy.

Đoạn sau: Chỉ cần chịu sanh lòng chân thật, phát nguyện thiết tha, xưng niệm vạn đức hồng danh của A Di Đà Phật, chắc chắn sẽ tiêu trừ Hoặc nghiệp, tăng trưởng thiện căn trong đời này. Khi lâm chung, nương theo Phật từ lực vãng sanh Tây Phương, quả thật là vô thượng đại pháp chẳng dễ gì gặp được trong ngàn đời vạn kiếp!

Chắc đa phần chúng ta chỉ nghĩ là được Phật rước về Cực Lạc đó chính là "nương theo Phật từ lực vãng sanh Tây Phương"? Dạ, "nương theo Phật từ lực" không đơn thuần chỉ là công đoạn được Phật tiếp dẫn vãng sanh không thôi đâu, mà trước đó đã được Phật từ lực gia hộ, che chở cho trong lúc cuối, để khỏi phải bị cận tử nghiệp gây bức bách, chi phối, như thế mới được an nhiên tự tại niệm Phật theo Phật về Tây. Cho nên chuyện Phật rước chỉ là công đoạn sau chót của việc "nương Phật lực" mà thôi, còn trước đó được Phật lực gia hựu, che chở cho cũng quan trọng chẳng kém. Bởi không có công đoạn này thì rất dễ bị cận tử nghiệp chiếm đoạt mất [tâm trí] rồi bị chúng dẫn dắt đi, nói cách khác là bị nghiệp lực 'ra tay' trước, kéo đi mất [trước khi thọ mạng dứt], như thế thì làm sao giữ được chánh niệm lúc cuối cho đến lúc tắt hơi, để mong Phật đến rước được đây [theo cái lý Pháp Biên Địa]? Bởi vậy cho nên mới thấy sự ưu việt của cái Pháp Tín Nguyện, niệm Phật là như thế nào, sự khác biệt là rất xa so với Pháp Biên Địa, bởi một đằng là nương nhờ vào Phật lực [che chở cho], còn một đằng là phải tự 'chiến đấu' lấy một mình, hay may ra thì được đại chúng đồng tu trợ duyên trợ lực thêm thôi, tức là một đằng là nhờ sức Phật, một đằng là cậy vào sức người, thế thì làm sao so sánh cho được! Thế nhưng không hiểu sao vẫn rất rất đông người, nếu không muốn nói là đại đa số, lại chọn ở 'sức người', chẳng chịu chọn sức Phật, rồi cho rằng cậy vào 'sức người' [tức sức chính mình] mới là đáng tin, mới chắc chắn, còn nương nhờ sức Phật thì lại sợ không đảm bảo, không dám [gửi gắm niềm tin]. Tất cả đây là do đâu? Đó chính là do chúng ta đã quá quen thuộc với các Pháp tự lực thông thường, nên giờ mặc dù phát tâm tu Tịnh Độ nhưng những tư tưởng ấy vẫn ăn sâu vào tâm khảm, không cách gì 'tẩy sạch', thay đổi lại cho được, hoặc giả là không được nghe, không được đọc những giáo lý Tịnh Độ hiểu cho đúng nghĩa lý, cho nên không thể y giáo phụng hành, tu tập một cách đúng pháp đúng lý cho được.

Các phần khác chúng ta cùng đọc và học tập.

 

Văn Sao Tam Biên, quyển 3

Thư trả lời hai vị nữ cư sĩ Huệ Thục và Huệ Khánh

Đại Sư Ấn Quang

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.