Kỳ Hữu Chí Tâm Nguyện Sanh Bỉ Quốc, Phàm Hữu Tam Bối

 

 

NPSTD7

Kỳ Hữu Chí Tâm Nguyện Sanh Bỉ Quốc, Phàm Hữu Tam Bối

Chánh kinh:
Phật cáo A Nan: - Thập phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, phàm hữu tam bối.
Phật bảo A Nan: - Nói chung, chư thiên nhân dân trong mười phương thế giới những ai chí tâm nguyện sanh về cõi kia thì gồm có ba bậc.

Giải:
Phẩm trước là mười phương chư Phật khen ngợi, đó chính là kết quả của nguyện “chư Phật khen ngợi”. Ấy là vì chư Phật muốn cho chúng sanh nghe danh hiệu phát tâm, ức niệm, thọ trì, thỏa nguyện được vãng sanh. Phẩm này bàn về các loại nhân hạnh để vãng sanh.
Phàm phu sau khi nghe danh hiệu Phật liền phát tâm. Do tín nguyện có sâu - cạn nên phát tâm có lớn hay nhỏ, trì tụng nhiều hay ít, tu tập có siêng, lười nhiều nỗi sai khác. Túc căn của chúng sanh có vô lượng sai biệt; phước đức, nhân duyên lại càng sai khác hơn nữa. Người người khác nhau, kẻ kẻ bất đồng. Do đó, đã có vô lượng chúng sanh trong mười phương vãng sanh thì phẩm loại của họ cũng phải vô lượng.
Ðối với vô lượng phẩm loại sai khác như thế, đức Thế Tôn chỉ tạm phân chia một cách tổng quát nên trong phẩm này chỉ nói đến ba bậc thượng, trung, hạ. Ðấy là cách phân chia giản lược nhất. Mỗi bậc lại tách ra làm ba loại nhỏ nên thành ra chín loại; Quán Kinh gọi là “chín phẩm”. Mỗi phẩm trong chín phẩm đó lại có chín phẩm, thành ra tám mươi mốt phẩm. Cứ lần lượt khai triển như thế đến vô lượng.
Trong vô lượng thứ bậc ấy, nói một cách tổng quát thì gồm có ba bậc. Dẫu phẩm loại của những người vãng sanh thật khác xa nhau, nhưng khi luận đến cái nhân chủ yếu để vãng sanh thì chẳng gì khác hơn là “phát Bồ Ðề tâm, một bề chuyên niệm A Di Ðà Phật”. Ðấy chính là cương tông của toàn bộ kinh này, là chìa khóa để vãng sanh Cực Lạc.
Ba bậc vãng sanh chính là để phân loại bọn phàm phu chúng ta sau khi đã vãng sanh về Tịnh Ðộ. Nguyện hạnh, công đức của từng bậc chính là khuôn phép để chúng ta noi theo hòng cầu được vãng sanh. Nếu lòng chân thành cầu được vãng sanh thì phải nên tuân theo những khuôn phép đó, khác nào tấm gương sáng để ta luôn soi mình, mong sao được bằng.
Nên nhớ rằng Tịnh Tông được xưng tụng là Dị Hành Ðạo (đạo dễ hành) là vì so với tám vạn bốn ngàn pháp môn mà nói thì chỉ có pháp môn này dễ dàng nhất nên mới gọi là Dị Hành Đạo; chứ nếu xét theo những điều được dạy trong kinh này, ta thấy vãng sanh cũng chẳng phải là việc dễ. Nếu chẳng thật vì sanh tử phát tâm Bồ Ðề, dùng tín nguyện sâu một dạ chuyên niệm mà mong vãng sanh thì không thể nào được.
Kính mong những hành nhân trong hiện tại chớ đừng thoáng nghe Tịnh Tông là dễ tu liền sanh khinh mạn, tín tâm hời hợt, chí nguyện lơ là, miệng bàn Tịnh nghiệp, tâm tiếc trần duyên; như vậy mà cầu sanh thì biết đến bao giờ mới được!
Khi phán định chín phẩm trong Quán Kinh có tương đương với ba bậc trong kinh này hay không, cổ đức đã lập ra lắm thuyết bất nhất:
1. Trường phái coi những phẩm loại được nói trong hai kinh là giống nhau thì gồm những vị như đại sư Ðàm Loan, Cảnh Hưng, Gia Tường, Liên Trì, Thiên Thai… Trong tác phẩm Lược Luận An Lạc Tịnh Ðộ Nghĩa, ngài Ðàm Loan nói: “Kinh Vô Lượng Thọ nói người sanh về An Lạc chỉ có ba bậc thượng, trung, hạ; kinh Quán Vô Lượng Thọ nói mỗi phẩm lại chia ra làm thượng, trung, hạ. Ba lần ba thành chín, hợp thành chín phẩm”. Tịnh Ảnh Sớ lại viết: “Phàm các nhân dân trong mười phương thế giới nguyện sanh cõi ấy thì có ba bậc. Gộp chung lại để nói thì như trong Quán Kinh; nếu chia sơ lược thì có ba bậc, chia tỉ mỉ thì thành ra chín”. Ngài Gia Tường cũng viết trong Quán Kinh Sớ như sau: “Kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói ba bậc, còn trong kinh đây (chỉ kinh Quán Vô Lượng Thọ) chia ba bậc thành chín bậc. Ba bậc là thượng, trung, hạ. Chín bậc là thượng phẩm có ba; trung, hạ cũng có ba nên thành chín bậc”. Ngài Cảnh Hưng cũng bảo: “Do chín phẩm trong kinh kia (Quán Kinh) gộp lại thành ba bậc trong kinh này nên giáo nghĩa dạy trong hai kinh chẳng khác nhau”. Ngài Liên Trì lại bảo: “Ba bậc, chín phẩm phù hợp khít khao với nhau, nào còn ngờ chi!” Trong Quán Kinh Sớ, ngài Thiên Thai cũng bảo: “Chín phẩm trong kinh này (Quán kinh) chỉ là để cho biết địa vị cao hay thấp, chúng chính là ba bậc trong Ðại kinh”. (...)

KINH A DI ĐÀ DGGD43454355

Ảnh minh họa: "Lại này Xá-lợi-phất, cõi nước Phật kia, thường trỗi nhạc trời, vàng ròng làm đất, ngày đêm sáu thời, mưa hoa Mạn-đà-la cõi trời. Chúng sanh ở cõi ấy, cứ mỗi sáng sớm, thường dùng đãi y, đựng các hoa đẹp, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, vừa đến giờ ăn, trở về nước mình, ăn cơm, kinh hành."

(Kinh A Di Đà bằng tranh)

Chúng ta đến với Phẩm 24, Tam Bối Vãng Sanh. Trong Phẩm này Phật sẽ giới thiệu ba bậc vãng sanh trong thế giới Cực Lạc, "thập phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, phàm hữu tam bối". Nói chung, đa số chú giải của các Ngài đều cho rằng ba bậc chín phẩm này đều là mang tính tương đối, Phật vì thuận theo chúng sanh mà phân định ra vậy thôi, chứ thật ra do Thiện căn, Phước đức, Nhân duyên bất đồng nên khi sanh về cõi ấy cũng có muôn vàn thể loại, cao thấp khác nhau chứ không phải chỉ có ba bậc chín phẩm không thôi đâu. Đó là các Ngài đã dựa vào cái Nhân địa tu trì hành đạo để cho ra cái quả vãng sanh phẩm vị tương ưng vậy. Tuy nhiên, chúng ta xét thấy rằng, chẳng có cái gì mà không có cái lý để tồn tại cả, rằng Phật nói lên ba cõi như thế chắc là cũng phải có lý do, chứ không thì tại sao không là bốn bậc, năm bậc... mà là ba bậc? Rồi chúng ta cũng biết cõi Phật ấy cũng phân biệt thành bốn cõi Tịnh Độ đó là: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thật báo trang nghiêm độ và Thường tịch quang độ, bởi nội chỉ nghe cái tên thôi chúng ta cũng phần nào cảm nhận được cảnh giới của các cõi ấy sai khác thế nào. Giống như chúng ta đây, học sinh đi học cũng phải phân làm các cấp hẳn hoi cấp 1, cấp 2, cấp 3, rồi đại học, sau đại học v.v... để dễ bề quản lý, tránh có sự khác biệt, phân hóa quá mức, như thế thì ở 'trên đó' cũng vậy thôi, chẳng hạn bậc Hạ phẩm hay Phàm thánh đồng cư chẳng thể ở 'chung mâm', cùng sinh sống, sinh hoạt, đi lại chung với bậc Thượng hay Thật báo trang nghiêm được, giống như đây hạng trẻ nít cấp 1 chẳng thể chơi đùa với dạng đã trưởng thành, người lớn cấp 3 hay đại học được. Cho nên thiết nghĩ chắc chắn sẽ có một sự 'phân định' rõ ràng nào đó [về cảnh giới] giữa ba bậc này, mục đích cũng là để trợ duyên trợ đạo hết mực cho chúng sanh trong việc hành đạo mà thôi. Chúng ta đọc thấy nhiều gương vãng sanh mà thần thức các vị đã du ngoạn Liên trì rồi sau đó trở về kể lại các cảnh giới trên đó, cũng cho thấy có những sự phân hóa, khác biệt rõ nét giữa các bậc vãng sanh này.

Còn xét về cái Lý thì như hạng Hạ phẩm thì hãy còn ở trong hoa sen, tâm trí chưa chứng nhập vào dòng thánh được [tức chưa đoạn trừ được phiền hoặc, tham sân si], nên chưa thể "hoa khai kiến Phật, ngộ vô sanh" được, cũng như chưa đi khắp thập phương cúng dường Chư Phật hàng ngày được, hoặc giả chưa thể phát tâm trở lại Ta Bà [hay thế giới nào đó] để tùy nguyện độ sanh được. Còn như bậc Thượng, hay một phần bậc Trung thì đã chứng đắc "lậu tận" sau một thời gian tu trì [hoặc giả đã chứng đắc ngay từ lúc hiện tiền trước khi vãng sanh] thì chắc chắn hình thức tu trì hành đạo cũng sẽ khác, được hàng ngày gặp Phật, nghe Pháp, đi cúng dường khắp thập phương, hay phát tâm vào trong sanh tử tùy nguyện độ sanh, thuyết pháp, làm các công đức... Cho nên, ít nhiều đều phải 'cách ly' ra để thuận tiện cho việc hành đạo của các bên. Chứ chẳng phải là sợ làm 'ô nhiễm' nhau gì đâu, bởi trên đó thì mọi cảnh giới, phương tiện, y báo, chánh báo đều là "hỷ lạc", "trang nghiêm, thanh tịnh" hết cả, nhưng do cảnh giới [công phu, tâm lực, trí huệ] khác nhau mà cảnh giới bên ngoài cũng phải tương đồng vậy.

Chỗ "kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, phàm hữu tam bối" ["những ai chí tâm nguyện sanh về cõi kia thì gồm có ba bậc"], chúng ta nói chỗ này một chút. Nói chung thì chúng sanh thập phương muốn về được cõi ấy thì không thể thoát khỏi cái gọi là "chí tâm" này được, chẳng hạn "chí tâm tin ưa", "chí thành [tâm] sám hối", "nhất tâm niệm ngã" tức nhất tâm bất loạn [nhất tâm cũng là một dạng của chí tâm], rồi ở đây Phật nói gọn chung lại là "chí tâm [...] nguyện sanh bỉ quốc", hay như với Pháp Biên Địa lúc cuối cũng phải chí tâm [niệm] mà cầu sanh về. Trong Quán Kinh cũng nói rõ về điều này, đó là ba tâm: Chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm [có đầy đủ thì chắc chắn được sanh về]. Cho nên, trong tu tập, có nhiều cái chúng ta không thể 'né tránh' được đâu, bởi bình thời đây mà không ra sức học tập, gầy dựng, tu trì thì đến lúc cuối cũng phải vượt qua được cái 'ải' đó thôi, chỉ là dưới dạng này hay dạng khác mà thôi, nếu muốn được sanh về cõi ấy, đó là chưa nói nếu để tới lúc cuối mới ra sức cố gắng để đạt được như thế thì vừa nguy hiểm, bất định [bởi nghiệp lực chúng sanh biết đâu mà lần] mà nếu về được thì cảnh giới phẩm vị cũng bị chiết giảm, ảnh hưởng quá nhiều [do phải vào Biên Địa một thời gian cho tiêu đi cái tâm nghi hoặc]. Cho nên ngàn vạn phần hành giả chúng ta đừng có đợi đến lúc cuối mới cố đạt "chí tâm", mà bình thời đây hãy chân thật nghiêm túc học tập gầy dựng đi để đạt cái "chí tâm" này, vừa an toàn, đảm bảo, vừa ở cái dạng "chí tâm" 'dễ chịu' hơn nhiều so với các dạng "chí tâm" kia, cụ thể đó là các dạng "chí tâm" nào thì chúng ta đã rõ, đã nói nhiều rồi.

Chúng ta có thể đọc phần chú giải đầy đủ của các Ngài trong sách Chú Giải để biết rõ hơn, còn cụ thể các bậc vãng sanh thế nào thì sẽ rõ trong phần Kinh văn sau, giờ chúng ta tiếp tục nói một chút về việc gầy dựng Tín Nguyện tâm trong tu học. Ở đây qua quá trình tu học chúng ta đều đã biết rằng Bổn Nguyện Trọng Thệ của Phật là không thể hư dối được, do là Phật đã thành Phật, bởi nếu Bổn Nguyện mà chưa thành tựu hay là hư dối thì Phật làm sao thành Phật cho được! Dẫu biết là vậy, và cũng tin là vậy, song để chuyển 'cái biết cái tin' này thành cái biết cái tin cho chính mình, tức có Tín tâm chân thật cho chính mình thì chưa thể 'chuyển hóa' được, nguyên nhân là do đâu? Dạ vâng, đó là do niềm tin đối với Bổn Nguyện [chân thật, không hư dối] là chưa đủ 'độ sâu', tức chưa đạt 'tới hạn', hay nói theo văn tự là chưa đạt "chí tâm tin ưa" [bất sanh nghi hoặc], bởi vậy cho nên khi gặp một chút thử thách gì đó [về ngữ nghĩa, văn tự] là lập tức cái niềm tin này bị lung lay hay 'bật bãi' ngay. Cụ thể ở đây đó là rằng nói là tôi đây tin chắc chẳng nghi rằng Di Đà Bổn Nguyện là chân thật, không hư dối đấy, thật sự vậy đấy, nhưng khi đi vào nội dung của nó thì lại 'chào thua', lại phát khởi hoài nghi. Bởi vậy, nếu một khi đã tin chắc rằng Bổn Nguyện là không hư dối, thế thì tất cả cái nội dung của nó trong đó chắc chắn cũng phải vậy chứ, rằng chân thật không thể hư dối, không thể hoài nghi, cho dù cái nội dung đó Phật tuyên gì gì trong đó đi nữa thì đều là chân thật, không hư dối hết, dẫu cho nó khó tin hay dễ tin đến bậc nào đi nữa thì cũng vậy thôi, chẳng thể khác được. Cho nên mới nói cần một chút 'phương pháp luận' ở đây là vậy, đó là trước hết phải gầy dựng để có niềm tin 'đủ sâu' đối với Bổn Nguyện, tức tin chắc chẳng nghi [hay gọi là "chí tâm tin ưa"] đối với cái Bổn Nguyện này, thì bất luận nội dung của nó có 'là giời' gì đi nữa vẫn tin chắc chẳng nghi với cái nội dung đó [chỗ "nãi chí thập niệm"], tức Phật tuyên gì tin nấy, bất luận, bất suy lường [bằng cái 'trí' phàm vào trong đó], như vậy mới được, rồi một khi đã có được như thế thì tự nhiên sẽ kéo theo cái Tín tâm chân thật chẳng nghi với chính mình thôi [tức chỗ các Ngài nói "chúng sanh xưng niệm tất nhiên được vãng sanh"]. Chứ như phàm phu chúng ta đây mà đùng cái bảo phải tin chắc chẳng nghi ngay cái chỗ "nãi chí thập niệm" thì ai mà tin cho nổi, hoặc giả sẽ lúc tin lúc ngở ngay. Bởi vậy nên các Ngài mới nói cần phải ra sức học tập gầy dựng để có Tín tâm chân thật đầy đủ là vậy, cụ thể ở đây là phải có cái Lý rõ ràng, xác quyết, được các Ngài chỉ dạy truyền trao, cùng với đó là cần thời gian, phương cách hẳn hoi và sự chân thật, nghiêm túc trong tu học thì mới được, chứ chẳng phải chuyện chơi.

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 24. Tam Bối Vãng Sanh

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.