Chánh kinh:
Kỳ Thượng bối giả, xả gia khí dục nhi tác sa-môn, phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ quốc. Thử đẳng chúng sanh, lâm thọ chung thời, A Di Đà Phật, dữ chư thánh chúng, hiện tại kỳ tiền. Kinh tu du gian, tức tùy bỉ Phật vãng sanh kỳ quốc, tiện ư thất bảo hoa trung tự nhiên hóa sanh, trí huệ dũng mãnh, thần thông tự tại. Thị cố A Nan! Kỳ hữu chúng sanh, dục ư kim thế kiến A Di Đà Phật giả, ưng phát Vô Thượng Bồ Đề chi tâm. Phục đương chuyên niệm Cực Lạc quốc độ, tích tập thiện căn, ưng trì hồi hướng. Do thử kiến Phật, sanh bỉ quốc trung, đắc Bất Thoái Chuyển, nãi chí Vô Thượng Bồ Đề.
Bậc Thượng là hạng bỏ nhà, lìa dục, làm sa-môn, phát Bồ Ðề tâm, một bề chuyên niệm A Di Ðà Phật, tu các công đức nguyện sanh sang cõi kia. Những chúng sanh ấy lúc tuổi thọ sắp hết, A Di Ðà Phật và các thánh chúng hiện ra trước mặt. Trong khoảnh khắc liền theo đức Phật ấy sanh về cõi kia, lại tự nhiên hóa sanh trong hoa bảy báu, trí huệ dũng mãnh, thần thông tự tại.
A Nan! Do vậy, nếu có chúng sanh nào muốn trong đời này được thấy A Di Ðà Phật thì phải phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề, lại nên chuyên nghĩ đến cõi nước Cực Lạc, thiện căn đã tích tập nên đem hồi hướng. Do đó, được thấy Phật, sanh trong cõi kia, đắc Bất Thoái Chuyển cho đến thành Vô Thượng Bồ Ðề.
Giải:
Phàm phu có được dự phần vào bậc Thượng vãng sanh hay không là một vấn nạn lớn trong Tịnh Tông.
Cổ đức có vị bảo đây là hạnh Bồ Tát (như có thuyết bảo Thượng Thượng Phẩm phải là Bồ Tát từ Tứ Ðịa đến Thất Ðịa, Thượng Trung Phẩm phải là từ Sơ Ðịa đến Tứ Ðịa Bồ Tát; các phẩm khác cứ theo đó mà suy. Phàm phu chỉ có thể đạt từ Trung Phẩm Trung Sanh trở xuống mà thôi!) Nếu thật sự là như vậy thì đại nguyện vô thượng của Phật Di Ðà, cõi sen Tây Phương độc diệu, pháp môn trì danh dễ hành, diệu pháp vãng sanh thù thắng đều thành hý luận, khiến cho diệu pháp Tịnh Tông chẳng thể nghĩ bàn lại thành ra pháp có thể nghĩ bàn nổi ư! Vì vậy, đây chính là một điều cốt lõi của Tịnh Tông; trong phần khái yếu của bản chú giải này tôi đã tạm bàn đôi điều nhưng chưa thể giãi bày hết ý chỉ này, nên ở đây tôi lại thử trình bày rõ hơn.
Đối với những sai lầm của cổ thuyết, chúng ta may mắn có được đại sư Thiện Ðạo đời Ðường. Ngài đã dẫn đủ các kinh luận để cực lực đả phá cựu thuyết. Trong Tứ Thiếp Sớ, đại sư đã luận như sau:
“Lại xem phần Ðịnh Thiện trong Quán Kinh và ý nghĩa kinh văn ba bậc Thượng, Trung, Hạ thì toàn là sau khi đức Phật nhập diệt, phàm phu ngũ trược chỉ do gặp duyên sai khác nên đến nỗi có chín phẩm sai biệt.
Vì sao? Người trong ba phẩm Thượng là phàm phu gặp duyên Ðại Thừa. Người trong ba phẩm Trung là phàm phu gặp duyên Tiểu Thừa. Người trong ba phẩm Hạ là phàm phu ngu ác, tạo ác nghiệp, lúc lâm chung nhờ bạn lành, nương nguyện lực của Phật bèn được vãng sanh; đến khi hoa kia nở thì mới phát tâm, chứ phải đâu là người mới học Ðại Thừa (cổ đức bảo bậc Hạ là người mới học Ðại Thừa). Nếu hiểu như thế thì mình lầm, làm người khác lầm, tai hại quá sức!”
Trong bản sớ giải, Ngài còn dẫn mười đoạn Quán Kinh để chứng minh luận thuyết ấy, ở đây tôi không trích dẫn đủ. Chín phẩm đài sen cõi Cực Lạc đều là nơi để phàm phu đời trược vãng sanh, chỉ do người đời gặp duyên có Ðại Thừa, Tiểu Thừa sai khác nên sau khi vãng sanh bèn có bậc Thượng, bậc Trung, bậc Hạ bất đồng.
Tịnh Tông là giáo pháp tối cực viên đốn. Nếu phàm phu thuộc căn khí Ðại Thừa có thể tin nhận được nổi thì sẽ giải ngộ trọn vẹn, tu chứng trọn vẹn thì sẽ vượt xa thường nhân cả kiếp (người căn cơ viên đốn tu một ngày bằng thường nhân tu một kiếp). Do đó, họ có thể ngay trong một đời công hạnh viên mãn chứng ngay Thượng Phẩm.
Nay với bản kinh này, tôi dùng các luận khác để chứng minh ba bậc vãng sanh thật sự là vì phàm phu, kiêm vì thánh nhân:
* Phẩm Tất Thành Chánh Giác (ắt thành Chánh Giác) trong kinh này có những câu kệ như sau: “Linh bỉ chư quần sanh, trường dạ vô ưu não, xuất sanh chúng thiện căn, thành tựu Bồ Đề quả. Ngã nhược thành Chánh Giác, lập danh Vô Lượng Thọ. Chúng sanh văn thử hiệu, câu lai ngã sát trung, như Phật kim sắc thân, diệu tướng tất viên mãn” (Khiến các quần sanh ấy, đêm dài không ưu não, xuất sanh các thiện căn, thành tựu quả Bồ Ðề. Nếu tôi thành Chánh Giác, lập hiệu Vô Lượng Thọ. Chúng sanh nghe hiệu ấy, đều sanh trong nước tôi, thân sắc vàng như Phật, diệu tướng đều viên mãn).
Bốn câu đầu nói lên nguyên do phát khởi đại nguyện: Muốn cho hết thảy chúng sanh trong đêm dài tăm tối được lìa các ưu bi khổ não, xuất sanh căn lành thành tựu Bồ Ðề. Ta thấy rõ Ngài thật sự muốn cứu tế khắp hết thảy những phàm phu đầy rẫy phiền não còn trong đêm dài tăm tối, khiến cho họ phát sanh thiện căn.
Bốn câu kệ kế tiếp nói đến pháp Ngài dùng để phổ độ: “Chúng sanh văn thử hiệu, câu lai ngã sát trung” (Chúng sanh nghe danh hiệu này, đều sanh trong nước ta). Các chúng sanh ấy cũng chính là quần sanh còn trong đêm dài ưu não. Bởi vậy, Thiện Ðạo đại sư mới bảo: “Ba bậc chín phẩm toàn là vì bọn phàm phu ngũ trược sau khi Phật nhập diệt”.
Hai câu kệ cuối cùng: “Như Phật kim sắc thân, diệu tướng tất viên mãn” (Thân sắc vàng như Phật, diệu tướng đều viên mãn) cho thấy phàm phu ưu não một khi đã sanh cõi kia thì đều được chân thân kim sắc, diệu tướng viên mãn đầy đủ giống như Phật.
Tiếp đó, kinh còn nói: “Diệc dĩ đại bi tâm, lợi ích chư quần phẩm, ly dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh” (Cũng dùng tâm đại bi, lợi ích các quần phẩm. Ly dục, chánh niệm sâu, tịnh huệ tu phạm hạnh), ý nói: Những người vãng sanh khi hoa nở thấy Phật, thân tâm thanh tịnh ngay, trí huệ bén nhạy, đại bi vô lượng, tự giác, giác tha thành tựu Bồ Ðề. Ðấy đều là do sức oai thần, sức bổn nguyện, nguyện trọn đủ, nguyện rõ ràng, kiên cố, rốt ráo của A Di Ðà Phật, nên mới có thể khiến cho phàm phu trong đêm dài ưu não đắc trí huệ thanh tịnh, thân tâm như Phật. Rõ ràng là phàm phu mang tâm Ðại Thừa trong cõi này được Phật gia bị bèn vãng sanh trong Thượng phẩm, đắc Vô Sanh Nhẫn thì có chi là lạ? Ngay câu đầu trong bài kệ tụng phát nguyện, tỳ-kheo Pháp Tạng đã bảo: “Ngã lập siêu thế chí” (Tôi lập chí siêu thế); những điều vừa nói trên chính là chỗ siêu thế, lẽ nào lại đem thói thường của mười phương để luận bàn phẩm vị cõi Cực Lạc ư? (...)

Ảnh minh họa: "Này Xá Lợi Phất, nếu có hàng thiện nam thiện nữ nào nghe nói về Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu Ngài, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn. Người ấy khi lâm chung thấy Phật A Di Đà, cùng các Thánh chúng hiện ra trước mặt. Khi chết người ấy tâm không điên đảo, liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Này Xá Lợi Phất, ta thấy những điều lợi ấy nên mới nói như vậy."
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta tiếp tục đến với Phẩm 24, Tam Bối Vãng Sanh. Trong phần Kinh văn này Đức Phật Ngài nói về bậc Thượng, đó là những hạng người như thế nào. Chúng ta đọc phần Kinh văn cùng chú giải của các Chư Tổ Sư, Đại Đức, các Ngài dẫn giải các Kinh, Luận, trước tác để chú giải, luận bàn cho phần nội dung này. Đây là vấn đề khá phức tạp, nên các Ngài chú giải rất dài (gần 30 trang đánh máy), nếu ai thích thì đọc học tập để nắm rõ hơn.
Ở đây chúng ta chỉ nói một cách cô đọng, vắn tắt thôi, trong phần Kinh văn này Phật nói: "Kỳ Thượng bối giả, xả gia khí dục nhi tác sa-môn, phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ quốc" [Bậc Thượng là hạng bỏ nhà, lìa dục, làm sa-môn, phát Bồ Ðề tâm, một bề chuyên niệm A Di Ðà Phật, tu các công đức nguyện sanh sang cõi kia]. Vậy rằng bậc Thượng có phải chỉ dành cho bậc xuất gia, còn hàng tại gia thì không có phần? Chúng ta ở đây thấy Phật nói rằng bậc Thượng thì hành tâm, hạnh như vậy, nhưng Phật không nói rằng bậc Thượng là không dành cho hàng tại gia. Cho nên hàng tại gia nếu muốn dự vào bậc Thượng thì cũng hành hạnh như vậy, tức cũng "lìa dục, phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ quốc" hành bằng cả thân, tâm, được như vậy thì tuy là tại gia, không xuất gia ["xả gia"], hay không "nhi tác sa môn" [làm sa môn] nhưng tâm, hạnh không khác gì bậc xuất gia, làm sa môn cả, cho nên nếu được như thế thì vẫn có phần được dự vào hạng Thượng phẩm. Cho nên, bản chất chỗ này đó là "lìa dục", bởi "xả gia" để "lìa dục", còn 'tại gia' nếu lìa dục được [ngũ dục, không còn tham luyến, chiếm hữu], cả thân, tâm, thì cũng chẳng khác bậc xuất gia, dĩ nhiên việc tu tập còn đơn giản hơn nhiều vì không phải thọ một số giới luật của bậc xuất gia. Đó là chỉ một phần của vấn đề, tức chỗ "lìa dục", phải rốt ráo, tinh nghiêm, còn phần còn lại này mới đáng nói hơn, đó là "phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ quốc", cốt lõi vấn đề [để đạt bậc Thượng] đó chính là vừa "nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật" mà lại vừa "tu chư công đức", kết hợp, đây mới là khó, mới 'đẳng cấp cao' [mới làm được]. Chỗ "nhất hướng" đây nghĩa là thế nào? Cái này dịch Việt là "một bề" [chuyên niệm] thì rõ ràng không được sát nghĩa lắm. Chữ "một hướng" ở đây không thể gọi là "một bề" được, mà phải hiểu là "nhất tâm" mới chuẩn xác, mới sát nghĩa. Tức chỗ "nhất hướng chuyên niệm" Phật nói ở đây đó là "nhất tâm chuyên niệm". Tuy nhiên, sau đó lại là "tu chư công đức" [nguyện sanh bỉ quốc], tức "tu các công đức, nguyện sanh Cực Lạc'. Như thế nghĩa là thế nào? Phía trước nói là "nhất hướng chuyên niệm" sao sau lại bảo "tu chư công đức", thế là sao? Dạ vâng, rằng chẳng có 'trăng sao' gì cả, chẳng có gì là mâu thuẩn ở đây cả. Bởi một khi ai đó đạt đến trình độ 'nhất tâm bất loạn' thì các vị ấy tu nhiều hạnh, ít hạnh hay một hạnh thì vẫn vậy, rằng tâm lúc nào cũng "nhất hướng" và "chuyên niệm" cả. Cho nên với 'đẳng cấp' này thì "tu chư công đức" cũng chẳng ảnh hưởng gì đến công phu tu tập cả, chỉ cốt mang lợi lạc cho chúng sanh thôi [làm các công đức, hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc]. Vậy tại sao Phật không nói luôn là "nhất tâm bất loạn" luôn đi [cho bậc này] mà lại nói là "nhất hướng chuyên niệm"? Bởi vấn đề nó nằm ở chỗ này, rằng "nhất hướng chuyên niệm" thì không phải chỉ có 'nhất tâm bất loạn", bởi đây là dạng bậc cao của "nhất hướng chuyên niệm", mà ngoài ra còn có có dạng khác, thấp hơn, chẳng hạn như 'nhất hạnh chuyên niệm', hay 'Chánh - Trợ song tu', trong đó Chánh - Trợ phải rạch ròi phân minh, như vậy cũng có thể gọi là "nhất hướng chuyên niệm". Chữ "chuyên niệm" đây ở mức độ nhẹ, 'dễ chịu' hơn 'bất loạn' rất rất nhiều, tức ở đây có chấp nhận cho cả hàng phàm phu [tâm còn xen tạp, vọng tưởng], chứ không phải chỉ có bậc Thánh nhân hay bậc Thượng thượng. Tuy nhiên để kết hợp với "tu chư công đức" thì hàng phàm phu tục tử khó mà kham làm được, thật sự vậy, chỉ có hạng công phu bậc cao, ở cảnh giới công phu cao mới kết hợp được hai yếu tố này. Cho nên nói với bậc Thượng hạng phàm phu cũng có phần ấy là nói họ huân tập thời gian lâu dài, tinh chuyên, và cũng phải đạt tới trình độ công phu nhất định nào đó [để "tu chư công đức" cũng không ảnh hưởng] mới được, nói cách khác là lúc đó họ đã chẳng còn là phàm phu nữa rồi, mà đã đạt đến những cảnh giới [công phu] nhất định nào đó. Bởi vậy các Ngài nói "phẩm vị cao hay thấp là do công phu sâu hay cạn" là hoàn toàn chính xác và có lý do hết cả.
Các phần còn lại chúng ta có thể đọc các chú giải của các Ngài để rõ hơn.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 24. Tam Bối Vãng Sanh (trích lục)
Ngài Hoàng Niệm Tổ
