Chánh kinh:
Kỳ Trung bối giả, tuy bất năng hành tác sa-môn, đại tu công đức, đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tùy kỷ tu hành, chư thiện công đức, phụng trì trai giới, khởi lập tháp tượng, phạn thực sa-môn, huyền tăng nhiên đăng, tán hoa thiêu hương. Dĩ thử hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc. Kỳ nhân lâm chung, A Di Đà Phật hóa hiện kỳ thân, quang minh tướng hảo, cụ như chân Phật, dữ chư đại chúng tiền hậu vi nhiễu, hiện kỳ nhân tiền, nhiếp thọ đạo dẫn, tức tùy hóa Phật vãng sanh kỳ quốc, trụ Bất Thoái Chuyển, Vô Thượng Bồ Đề, công đức trí huệ thứ như Thượng bối giả dã.
Bậc Trung là [những người] tuy chẳng thể thực hành hạnh sa môn, tu các công đức lớn lao, nhưng phải phát Bồ Ðề tâm, một bề chuyên niệm A Di Ðà Phật. Tùy sức mình tu hành các công đức lành, phụng trì trai giới, tạo dựng tháp tượng, đãi cơm sa-môn, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương, đem những việc ấy hồi hướng nguyện sanh cõi kia. Lúc người ấy lâm chung, A Di Ðà Phật hóa ra thân có đủ quang minh, tướng hảo như đức Phật thật cùng các đại Bồ Tát vây quanh trước sau hiện ra trước người ấy nhiếp thọ, dẫn dắt. Người ấy liền theo hóa Phật vãng sanh nước kia, trụ Bất Thoái Chuyển Vô Thượng Bồ Ðề; công đức, trí huệ gần bằng bậc trên.
Giải:
Sách Lược Luận nói: “Vãng sanh bậc Trung có bảy nhân duyên: Một là phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề; hai là một mực chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật; ba là tu các thiện nghiệp dù nhiều hay ít, phụng trì trai giới; bốn là tạo dựng tháp tượng; năm là dâng cơm cho sa-môn; sáu là treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương; bảy là đem công đức ấy hồi hướng nguyện sanh sang cõi kia”.
Sách Hội Sớ cũng nói giống như thế.
Ðiều thứ nhất là phát Bồ Ðề tâm và điều thứ hai là “một mực chuyên niệm” đã được giải thích trong phần trên nên ở đây chẳng nhắc lại.
Ðiều thứ ba là “tùy kỷ tu hành chư thiện công đức” nghĩa là: Tùy theo sức mình có thể làm nổi mà nỗ lực làm các công đức lành.
Sách Ðại Thừa Nghĩa Chương, quyển mười hai giảng chữ “trai giới” như sau: “Ðề phòng, ngăn cấm nên gọi là Giới (戒), khiết tịnh nên gọi là Trai (齋)”. Sách Tứ Phần Luật Âm Nghĩa giảng chữ Giới như sau: “Giới là tên gọi khác của Luật. Tiếng Phạn là Tam Bà La, Hán dịch là Cấm. Giới có nghĩa là ngăn cấm”. “Trai” có nghĩa là chẳng ăn quá ngọ, chánh ngọ là chánh thời, còn những lúc khác đều là phi thời. Ðúng thời (chánh thời) thì ăn, phi thời chẳng ăn. Chẳng ăn quá ngọ thì gọi là “trì trai”.
Sách Nam Sơn Nghiệp Lưu cũng bảo: “Trai nghĩa là tề chỉnh, tề chỉnh cái tâm mình, hoặc có nghĩa là trong sạch”. Như vậy, Trì Trai chính là trừ sạch những gì bất tịnh trong tâm.
Sách Hội Sớ lại bảo: “Trai giới chính là Bát Quan Trai Giới và những giới thuộc Tiểu Thừa hay Ðại Thừa. Giới là thầy của con người, đạo lẫn tục đều phải tuân thủ. Tâm làm nghiệp chủ, phàm lẫn thánh đều phải chế ngự tâm. Chánh pháp trụ hay diệt toàn là nhờ vào Giới. Giới sáng ngời như mặt trời, mặt trăng, tôn quý tựa bảo châu. Thà chịu khát mà chết, chẳng đành uống nước có trùng (nước chưa lọc sạch còn có trùng nhỏ mắt không thấy được). Thà bị trói đến chết, chẳng nỡ làm thương tổn lá cỏ”.
Lời Sớ đã bàn đến tột cùng điểm trọng yếu của trai giới. Chánh pháp có tồn tại được trong đời hay không toàn là cậy vào hành nhân có giữ giới được hay không! Vì vậy, thà mất cả thân mạng, chẳng trái nghịch giới mình đã thọ. Cư sĩ Bành Tế Thanh nói: “Vì vậy, phải biết rằng tư lương Tịnh Ðộ toàn là cậy vào công đức. Nền móng của công đức không gì hơn nổi trì giới. Ðó là vì giới tịnh ắt tâm tịnh, tâm tịnh thì quốc độ tịnh”. (...)

Ảnh minh họa: "Các pháp như thế ấy, chúng sanh ở nước kia nghe âm thanh này rồi, thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng"
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta tiếp tục đến với phần tiếp theo trong Phẩm 24, Tam Bối Vãng Sanh. Phần tiếp theo này Phật nói về bậc Trung, là những dạng hành giả như thế nào. Thật ra rằng Phật nói về bậc Trung này cũng không khác biệt mấy so với bậc Thượng, chỉ khác là "tuy bất năng hành tác sa-môn" [tuy chẳng thể thực hành hạnh sa môn], còn lại đều khá giống với bậc Thượng, vẫn là "đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật", rồi "tùy kỷ tu hành, chư thiện công đức, phụng trì trai giới"..., tuy có lẽ mức độ thậm thâm công đức có kém hơn. Tức là một mặt vẫn phải phát tâm vô thượng Bồ Đề [tức Tín Nguyện tâm], nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, một mặt là "chư thiện công đức", "phụng trì trai giới" v.v... Nói chung vẫn phải có tâm tự hành hóa tha, tự lợi lợi tha, tuy mức độ có kém hơn bậc Thượng.
Điểm khác biệt căn bản ở đây đó chính là "tuy bất năng hành tác sa-môn", tức là mức độ trì kinh giữ giới kém hơn bậc Thượng một bậc, bởi "hành tác sa-môn" cho dù là bậc xuất gia thực thụ hay hàng cư sĩ tại gia thì đều đòi hỏi yêu cấu các giới luật cao hơn nhiều so với hạng không thể "hành tác sa-môn", dù xuất gia hay tại gia. Bởi chúng ta biết, giới luật là nền tảng của công đức, việc gìn giữ nghiêm trì giới luật càng cao thì công đức càng viên mãn, cho nên với bậc Trung này do "bất năng hành tác sa-môn" nên rõ ràng công đức, cảnh giới chẳng thể sánh với bậc Thượng được, cho nên "công đức trí huệ thứ như Thượng bối giả dã" [công đức trí huệ kế bậc Thượng]. Tuy nhiên với bậc Trung này vẫn phải vừa "nhất hướng chuyên niệm" vừa "tùy kỷ tu hành, chư thiện công đức", giống như bậc Thượng, chứng tỏ rằng cũng không phải dễ dàng đạt được, mà phải có một trình độ công phu nhất định nào đó, thì mới kết hợp được hai công việc này cùng lúc. Nói chung Phật nói rằng với hai bậc Thượng và Trung, thì phải có yếu tố 'tự lợi lợi tha' ở trong đó, ngay hiện tiền này, dĩ nhiên là tùy phận tùy lực, tùy nhân duyên, rằng "tùy kỷ tu hành", tức tùy năng lực, đạo tâm đạo lực của hành giả, nhưng điều quan trọng cốt yếu đó là vẫn giữ "đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật", dù làm gì làm vẫn không được sao nhãn chuyện này. Vì sao vậy? Đơn giản vì đó mới là yếu tố quyết định việc thành tựu vãng sanh vậy [tức chánh hạnh], chứ chẳng phải những yếu tố kia [chỉ là trợ hạnh, trợ duyên]. Còn một khi việc chánh yếu kia chưa hoàn thành được, tức chẳng hạn chưa thành tựu được công phu [nhất tâm bất loạn] hay thành tựu được Tín Nguyện tâm đầy đủ, thì tốt nhất hãy nên tập trung ra sức gầy dựng, học tập, hành trì đi cái đã, để cầm chắc cái vé đi đã, rồi sau đó hãy nghĩ đến phẩm vị cao thấp này kia, hay "tu chư công đức". Chúng ta phải tu tập theo từng bậc, từ thấp lên cao, cái thấp cái dễ phải ưu tiên làm trước, và làm cho được, rồi mới qua bước tiếp theo, đó gọi là 'trước tự độ mình mới ra độ người'. Dĩ nhiên rằng trong tu học, chúng ta cũng phải kết hợp Chánh Trợ song tu, nhưng phải biết cái nào là trọng yếu, mang tính quyết định, cái nào là phụ trợ, phương tiện thiện xảo thôi, chứ đừng có nhập nhằn chánh trợ lẫn lộn, chẳng biết phương hướng gì, riết rồi đem cái gì cũng thành chánh yếu hết, cái gì cũng là yếu tố quyết định vãng sanh hết, kể cả các pháp thế gian hay xuất thế. Giới tu học ngày nay hay bị 'căn bệnh' này, cứ hở ra là làm thế này thế kia sẽ chẳng được vãng sanh, hay [tâm] phải thế này thế kia mới được vãng sanh..., nói chung có cả ngàn lý do để cho rằng không được vãng sanh, từ chuyện lớn đến chuyện bé, tu như thế tức là thế nào? Rằng tất tần tật, bất cứ cái gì, từ lớn tới bé, đều trở thành yếu tố quyết định thành tựu cả, thành 'chánh nhân vãng sanh' hết cả! Đây chính là 'đặc sản' của chúng sanh thời Mạt này vậy, tức Tín tâm cạn mỏng đến mức thảm hại luôn, ngay đến lời Kinh lời Phật thuyết cũng chẳng còn coi trọng, để tín thọ phụng hành, rằng người nói thì nghe, còn Phật nói thì chẳng chịu nghe, tình trạng chung là vậy.
Các phần còn lại chúng ta có thể đọc chú giải của các Ngài để nắm rõ hơn về đoạn Kinh văn này, giờ chúng ta tiếp tục nói một chút về việc gầy dựng Tín Nguyện tâm trong tu học. Rằng một khi đã hiểu đúng nghĩa lý nội dung của Bổn Nguyện, tức lời Thề Nguyện của Phật [rằng chỗ "nãi chí thập niệm" đó không phải là nhất thiết dành cho lúc lâm chung, trừ hạng bét] thì cái yếu tố cần kíp bổ khuyết nhất [để học tập, bổ sung] để đủ 'tiêu chuẩn' để vãng sanh, mà đa phần còn thiếu chưa đủ đó chính là cái Tín tâm chân thật, chẳng nghi với Lời Thề Nguyện của Phật [chỗ "nhược bất sanh giả bất thủ chánh giác"], đây mới là chỗ khiếm khuyết cần ra sức gầy dựng bổ sung của đại đa số. Còn vấn đề hành trì thì tuy vẫn quan trọng, nhưng không phải là yếu tố quyết định, nó chỉ quyết định cảnh giới, phẩm vị được sanh về mà thôi, chúng ta phải nhận thức cho rõ ràng như thế. Mà muốn điều này [phẩm vị] phát huy hiệu lực thì phải được sanh về thì mới có tác dụng chân thật, chứ còn cứ cố công phu cho cao, tu nhiều công đức, nhưng đến lúc cuối lại chẳng được sanh về thì cũng như không, 'dã tràng se cát', chỉ trở thành gieo duyên. Mà cơ sở để gầy dựng cái Tín tâm này [đối với Di Đà Bổn Nguyện, và cũng là cho chính ta] đó chính là lời Kinh Phật thuyết, rằng Đức Phật "thành Phật đến nay đã mười kiếp, hiện đang thuyết pháp". Cho nên, suy cho cùng việc gầy dựng Tín tâm cũng chỉ là việc tin tưởng chẳng nghi lời Kinh Phật thuyết này mà thôi. Ở đây không phải là tin thông thường [dạng nay tin mai ngờ] mà cần phải tin sâu, tin chắc, "bất sanh nghi hoặc". Cho nên chúng ta cần thời gian để 'liên kết' giữa hai cái này, mặc dù bản chất chỉ là một, rằng có cái này ắt có cái kia, mà nếu chẳng có cái này thì ắt cũng không thể có cái kia. Cho nên một khi đã tin tưởng chẳng nghi điều này ắt cũng phải tin chắc chẳng nghi điều kia vậy, còn như không hay chưa được vậy thì chắc chắn Tín tâm [đối với một vế] có vấn đề, chưa đủ độ sâu cần thiết, cần học tập gầy dựng thêm. Còn như ai hiện tại đây chẳng chịu tin theo Pháp này hay chẳng chịu gầy dựng học tập, cứ để đến lúc cuối 'chiến đấu' với cận tử nghiệp, để lúc đó có thể đạt được chí thành tâm niệm cầu sanh về thì tùy thôi, mỗi người có một cách lựa chọn vậy.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 24. Tam Bối Vãng Sanh (trích lục)
Ngài Hoàng Niệm Tổ
