Lại Này A Nan! Nếu Có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhân Nghe Kinh Điển Này, Thọ Trì, Đọc Tụng, Biên Chép, Cúng Dường Liên Tục Ngày Đêm...

 

 

NPSTD7

Lại Này A Nan! Nếu Có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhân Nghe Kinh Điển Này, Thọ Trì, Đọc Tụng, Biên Chép, Cúng Dường Liên Tục Ngày Đêm...

Chánh kinh:
Phục thứ A Nan! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thử kinh điển, thọ trì, độc tụng, thư tả, cúng dường, trú dạ tương tục, cầu sanh bỉ sát, phát Bồ Đề tâm, trì chư cấm giới, kiên thủ bất phạm, nhiêu ích hữu tình, sở tác thiện căn tất thí dữ chi, linh đắc an lạc, ức niệm Tây Phương A Di Đà Phật, cập bỉ quốc độ. Thị nhân mạng chung, như Phật sắc tướng, chủng chủng trang nghiêm, sanh bảo sát trung, tốc đắc văn pháp, vĩnh bất thoái chuyển.
Lại này A Nan! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh điển này, thọ trì, đọc tụng, biên chép, cúng dường liên tục ngày đêm, cầu sanh cõi kia, phát Bồ Ðề tâm, trì các cấm giới, giữ vững chẳng phạm, lợi lạc hữu tình, các thiện căn đã làm đều đem thí cho [hữu tình] khiến họ được an lạc, ức niệm A Di Ðà Phật ở phương Tây và cõi nước kia thì người ấy lúc mạng chung sẽ đắc sắc tướng như Phật, các thứ trang nghiêm, sanh trong cõi báu, chóng được nghe pháp, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển.

Giải:
Ðoạn văn mở đầu phẩm này nói về chánh nhân thứ nhất: Phát tâm niệm Phật kiêm thọ trì kinh, giới, làm lợi cho mình lẫn người thì được vãng sanh (trọn đoạn văn trên đây trích từ bản Tống dịch).
Chánh nhân thứ nhất gồm có sáu điều: Thọ trì kinh này, cầu sanh Tịnh Ðộ, phát tâm Bồ Ðề, nghiêm trì các giới, lợi lạc hữu tình, nhớ Phật, niệm Phật.
1. Quán Kinh nói: “Độc tụng Đại Thừa” (Đọc tụng Ðại Thừa). Sách Quán Kinh Ước Luận bảo: “Chẳng đọc Ðại Thừa sẽ chẳng thể hiểu nổi tâm Phật. Chẳng hiểu Phật tâm thì chẳng khế hợp Phật trí. Chẳng khế hợp Phật trí thì dù có sanh cõi kia cũng chẳng thấy được Phật”.
Trong kinh đây, ngay đầu phẩm này đã dạy: “Văn thử kinh điển, thọ trì, độc tụng” (Nghe kinh điển này thọ trì, đọc tụng). “Thử kinh” (Kinh này) chính là kinh Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác. Kinh này chính là kinh Tịnh Ðộ bậc nhất mà cũng chính là Trung Bổn Hoa Nghiêm. Kinh này cũng chính là kinh đức Thế Tôn riêng lưu lại tồn tại một trăm năm nữa vào lúc kinh đạo diệt tận trong thời tương lai để làm phương tiện cứu vớt chúng sanh đời Mạt.
Chữ 
“thử kinh” cũng chỉ tất cả các bản dịch Hán, Ðường, Ngô, Ngụy, Tống của kinh Vô Lượng Thọ lẫn các hội bản, tiết bản của các ông Vương Nhật Hưu, Bành Tế Thanh, Ngụy Thừa Quán. Chỉ cần thọ trì các bản ấy thì đều là chánh nhân; nhưng riêng hội bản này được xưng tụng là bản hoàn thiện nhất nên trì tụng bản này công đức càng thù thắng hơn nữa. Chữ “trú dạ tương tục” (ngày đêm liên tục) biểu thị sự dũng mãnh, tinh tấn, chẳng hề gián đoạn.
2. “Cầu sanh bỉ sát” (Cầu sanh cõi kia): Ðem các công đức thọ trì, đọc tụng, biên chép, cúng dường hồi hướng Tịnh Ðộ.
3. “Phát Bồ Ðề tâm”“Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” là tông của cả bộ kinh này, là khuôn phép chánh của ba bậc vãng sanh nên được nhắc lại trong phẩm này.
4. “Trì chư cấm giới, kiên thủ bất phạm” (Giữ các cấm giới, giữ vững chẳng phạm): Ðây chính là như Quán Kinh dạy “cụ chư giới hạnh” (đủ các giới hạnh) hoặc “cụ túc chúng giới, bất phạm oai nghi” (đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi). Ðó là vì không có giới hạnh thì khác nào đồ đựng bị lủng, dẫu siêng niệm Phật cũng khó bề viên mãn.
5. “Nhiêu ích hữu tình” (Lợi lạc hữu tình) là hạnh lợi tha của Bồ Tát như phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có dạy: “Bồ Tát nhược năng tùy thuận chúng sanh, tắc vi tùy thuận chư Phật. Nhược ư chúng sanh tôn trọng thừa sự, tắc vi tôn trọng thừa sự Như Lai” (Bồ Tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh thì là tùy thuận chư Phật. Nếu tôn trọng, thừa sự chúng sanh thì chính là tôn trọng, thừa sự Như Lai). Vì vậy, hành nhân Tịnh nghiệp nên rộng hành hạnh lợi lạc chúng sanh. “Sở tác thiện căn tất thí dữ chi” nghĩa là: Hết thảy công đức và thiện căn tự mình đã làm đều đem thí cho hết thảy chúng sanh. Hết thảy tội khổ của chúng sanh ta đều chịu thay.
6. Nhớ Phật, niệm Phật“Ức niệm Tây Phương A Di Đà Phật cập bỉ quốc độ” (Ức niệm đức A Di Ðà Phật ở phương Tây và cõi nước kia). Diệu hạnh Niệm Phật là vua của các điều thiện, mầu nhiệm nhất trong các sự mầu nhiệm. Trong các chánh nhân, phát tâm niệm Phật thật là điều quan trọng hàng đầu.
Những điều trên là Nhân, tiếp đây sẽ nói về Quả. Nhân quả phụ thuộc vào nhau như bóng theo hình: 
“Thị nhân lâm chung, như Phật sắc tướng” (Người ấy lúc lâm chung, được sắc tướng như Phật)Người ấy giống như Phật, [nghĩa là] thân sắc vàng ròng, đủ ba mươi hai tướng, lại đầy đủ các thứ công đức trang nghiêm như Phật. “Sanh bảo sát trung, tốc đắc văn pháp” (Sanh trong cõi báu, chóng được nghe pháp): Người ấy mạng chung rồi sắc tướng giống như Phật, lại chóng được nghe pháp.

KINH A DI ĐÀ 43BB55

Ảnh minh họa: "Lại này Xá-lợi-phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó. Ðáy ao toàn trải cát bằng vàng. Thềm đường bốn phía do các thứ vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Bên trên có lầu có các, cũng dùng đủ loại vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não để trang sức."

(Kinh A Di Đà bằng tranh)

Chúng ta đến với Phẩm 25, Chánh Nhân Vãng Sanh. Trong Phẩm này, Đức Phật lần lượt giới thiệu các chánh nhân để hành giả được vãng sanh Cực Lạc. Trong phần này, Đức Phật giới thiệu về chánh nhân thứ nhất, đó là "văn thử kinh điển, thọ trì, độc tụng, thư tả, cúng dường, trú dạ tương tục, cầu sanh bỉ sát, phát Bồ Đề tâm, trì chư cấm giới, kiên thủ bất phạm, nhiêu ích hữu tình, sở tác thiện căn tất thí dữ chi, linh đắc an lạc, ức niệm Tây Phương A Di Đà Phật, cập bỉ quốc độ", nói chung là cả một 'seri', rất nhiều thứ trong đó, vậy chúng ta biết tu tập thế nào đây để được như lý như pháp, tức tu tập đúng y như theo lời Kinh Phật thuyết? Liệu phàm phu như chúng ta có làm được? Thật sự là trong chánh nhân thứ nhất này Phật nêu ra rất nhiều cái 'nhân' để thực hành, vậy không lẽ chúng ta phải thực hiện đầy đủ hết tất cả đó thì mới chắc được thành tựu, tức là mới chắc được như lý như pháp chăng? Thật ra trong các 'nhân' này thì quan trọng nhất đó chính là "văn thử kinh điển, [rồi] thọ trì", tức là nghe Kinh này rồi "thọ trì" đúng theo Kinh này, thế là đủ [để vãng sanh], còn tất cả còn lại hoặc là đã bao hàm trong cái "thọ trì" này rồi, hoặc là chỉ là 'trợ' nhân, giúp cho dễ bề đạt được cái nhân chính kia, hoặc là giúp tăng trưởng phẩm hạnh, công đức, đạo tâm đạo lực cho hành nhân mà thôi. Vậy "thọ trì" theo Kinh này nghĩa là thế nào? Đó tức là hành đúng theo Phẩm Tam Bối Vãng Sanh ở phần trên, hay cụ thể hơn đó là hành theo Bổn Nguyện mà Phật [Di Đà] đã tuyên và Phật [Thích Ca] đã thuyết lại, mà với hành giả niệm Phật cầu vãng sanh thì đó là bốn cái Đại Nguyện tiếp dẫn vậy, hay cô đọng hơn nữa thì đó chính là Đại Nguyện 18, bởi Đại Nguyện này gồm thâu tất cả các Đại Nguyện [tiếp dẫn], tức ba cái kia đều đã 'có mặt' trong cái này, không sót gì cả, chúng là một phần trong Đại Nguyện này. Như vậy chữ "thọ trì" ở đây thì chúng ta đã biết là gì rồi đấy, tức là phải thực hiện đúng theo Đại Nguyện 18, thế là xong. Còn như để thực hiện được đúng theo Đại Nguyện 18 [tức Tín Nguyện đầy đủ, niệm Phật] thì hành nhân phải thực hiện cho được [ít nhiều] những điều Phật đã thuyết trong phần Kinh văn này, như "văn thử kinh điển, thọ trì, độc tụng, thư tả, cúng dường, trú dạ tương tục, cầu sanh bỉ sát...", như vậy thì mới có khả năng "thọ trì" được Kinh văn này [cụ thể là Đại Nguyện 18], tức y giáo phụng hành. Chứ không chúng ta đọc một 'seri' dài như thế, xong nói để y giáo phụng hành thì phải thực hiện cho được và phải thực hành trọn vẹn hết tất cả, thế thì thôi, chắc phải dạng Pháp thân Đại sĩ hay Đại Bồ Tát tái lai may ra mới thực hiện trọn vẹn được [và lên thẳng bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh].

Chỗ "trú dạ tương tục" đó nghĩa là sao? Nghĩa là đọc Kinh điển xong, phải thọ trì cho được "trú dạ tương tục" luôn, chính xác là như vậy. Cho nên hoặc là công phu đạt Nhất tâm bất loạn [hay tương tự] theo Đại Nguyện 19 ["nhất tâm niệm ngã, trú dạ bất đoạn"], hoặc giả nếu không làm được vậy thì phải "chí tâm tin ưa" [theo Đại Nguyện 18], tức "bất sanh nghi hoặc", như thế thì cũng gọi là 'nhất tâm tin tưởng', hai cái 'nhất tâm' này đều gọi là "trú dạ tương tục" được vậy [tức 'nhất tâm ngày đêm' về hành trì hay về Tín tâm, hay cả hai].

Chỗ "ức niệm Tây Phương A Di Đà Phật, cập bỉ quốc độ" [ức niệm A Di Ðà Phật ở phương Tây và cõi nước kia], tức thường luôn nhớ Phật niệm Phật, số lượng vô số [ức niệm], không thể tính đếm được. Cho nên chúng ta thấy trong Bổn Nguyện chỗ "nãi chí thập niệm", đừng tưởng rằng hành giả chỉ niệm mười niệm rồi 'nằm chờ' đó chẳng cần niệm gì nữa, cứ đợi đến khi lâm chung là Phật đến rước, dạ không phải như vậy đâu, mà cũng chẳng phải là mười niệm này là dành cho lúc lâm chung phải có [thì Phật mới đến rước], cũng chẳng phải như vậy, bởi hiểu như vậy là hiểu theo lối của Pháp Biên Địa rồi, chẳng đúng với nghĩa lý của Kinh văn. Như vậy thì phải hiểu thế nào đây? Đó là chỗ "nãi chí thập niệm" này chỉ là dành riêng cho hạng Bét, lâm chung mới bắt gặp Chánh pháp thôi, chẳng còn thời gian niệm được nhiều hơn, nên chỉ niệm được một vài niệm hay mười niệm là dứt thọ mạng rồi, cho nên Phật đại từ đại bi muốn độ thoát tất cả các trường hợp, tất cả mọi hoàn cảnh nhân duyên của chúng sanh, nên phải tuyên thệ lên như vậy ["nãi chí thập niệm"], chúng sanh cho dù [ở hoàn cảnh như thế] nhưng chỉ cần [kịp] tin tưởng và niệm được vài niệm như thế thôi thì ta cũng sẽ đến rước, không sót một ai. Còn với tất cả các trường hợp còn lại thì sao? Do Pháp này là Pháp bình đẳng [không phải Pháp tự lực], nên sự cứu độ phải là đồng như nhau, không phân biệt, cho tất cả chúng sanh, bởi vậy cho nên Phật đã tuyên thệ như thế thì là dành cho tất cả mọi trường hợp luôn, tất cả chúng sanh, không phân biệt hoàn cảnh nhân duyên, căn cơ, cho nên tất cả các dạng còn lại, trong đó có chúng ta, cũng đều 'hưởng chung' cái điều kiện này, đó là "nãi chí thập niệm" [dẫu chỉ mười niệm] cũng được vãng sanh, miễn là phải thỏa mãn một yếu tố, đó là yếu tố gì? Đó chính là phải "thọ trì" [cái Đại Nguyện này], tức là phải "chí tâm tin ưa" [bất sanh nghi hoặc] mới được. Cho nên, xét về mặt hành trì thì chỉ cần "nãi chí thập niệm", lý thuyết là như vậy, nhưng để "thọ trì" được theo Kinh văn [Bổn Nguyện] thì phải "chí tâm tin ưa, nguyện sanh ngã quốc", mà để "thọ trì" [y giáo phụng hành] điều này thì đương nhiên ngoài trường hợp hạng Bét kia ra [đó là do hoàn cảnh đặc thù không còn thời gian] thì tất cả còn lại phải hành trì tương ưng với cái tâm lực của mình [tức "thọ trì", tín thọ phụng hành], không thể chỉ có "nãi chí thập niệm" mà gọi là đã "thọ trì" cho được, hoặc giả hành trì ít, hời hợt mà gọi là có Tín tâm chân thật chẳng nghi ["thọ trì"] cho được! Cho nên chúng ta thấy, tất cả các trường hợp khác là chỉ 'hưởng lợi' chung với hạng Bét kia về cái Lý để làm cơ sở gầy dựng Tín tâm thôi, hay nói cách khác là chúng ta đã có một cái cơ sở [về Lý] không thể cụ thể hơn ["dẫu chỉ mười niệm"], đó là nhờ 'ăn theo' trường hợp đặc biệt hạng Bét kia [nên Phật tuyên thệ chung cho tất cả đều như vậy]. Còn về mặt "thọ trì" thì mỗi dạng [thể hiện] mỗi khác, với dạng Bét thì đúng chỉ cần "nãi chí thập niệm" là thể hiện được [cùng Tín tâm chân thật chẳng nghi], còn các dạng còn lại thì phải thể hiện [hành trì] đến "ức niệm Tây Phương A Di Đà Phật, cập bỉ quốc độ", tức thường luôn nhớ Phật niệm Phật [và nhớ Thế Giới Cực Lạc] như thế thì mới gọi là có cái tâm lực đạt "thọ trì" Kinh văn, "chí tâm tin ưa, nguyện sanh bỉ quốc" [tức Tín Nguyện đầy đủ chân thật] được. 

Như vậy tại sao Phật lại 'liệt kê' ra nhiều cái 'nhân' để vãng sanh như vậy để làm gì? Mà đây chỉ là phần một, sau đó còn nhiều cái khác nữa? Như đã đề cập trên rằng để "thọ trì" được lời Kinh Phật thuyết đó không phải là chuyện đơn giản, rằng ai muốn làm thì đều làm được cả ngay, mà chẳng cần phải học tập, 'bồi dưỡng' tâm tánh, nhân cách, hay phải vun bồi thiện căn, phước đức, nhân duyên mà có thể "thọ trì" được ngay đâu! Thực sự đó không phải là chuyện dễ dàng, đơn giản, mà cần phải có thời gian, học tập, vun bồi, hay 'uốn nắn', tu sửa, rồi hàm dưỡng những tánh đức này kia cho ngày một lớn mạnh, như thế mới có thể sau quá trình tu tập, 'tôi luyện' mới có thể có một cái tâm lực kiên cố vững chắc, hay một sự kiên cường, bất khuất, không lay động, hay thậm chí cả cái tâm khiêm hạ, chịu 'cúi mình' để học tập, tin nhận những giáo lý trong Kinh điển, rằng phải phá trừ dần đi cái bản ngã, cái tôi đang ngự trị ít nhiều trong mỗi chúng ta đây, tất cả đều cần quá trình mài dủa rèn luyện, hoặc giả là sau quá trình tu học, hành trì giúp tâm trí sáng suốt để nhận ra đâu là cái Lý chân thật, như lý như pháp, đâu chỉ là phù phiếm, không thật, phiến diện hay có thể xếp vào hàng tà kiến này kia. Cho nên, không phải tự nhiên mà Phật thuyết ra 48 Đại Nguyện xong, rồi lại phải thuyết thêm chương ba bậc vãng sanh [gồm những điều cần tu trì cụ thể thế nào], rồi sau lại phải thuyết tiếp phần Chánh nhân vãng sanh này nữa, bao gồm các nhân [chánh, trợ] khác nhau để giúp được thành tựu. Nói chung là Phật đi từ cô đọng [tông yếu] đến mở rộng, khai triển chi tiết ra [những hình thức tu trì], nhằm giúp chúng sanh dễ bề thực hiện được cái gọi là "thọ trì" cho được Kinh văn Phật thuyết [cho phần Tông yếu, Bổn Nguyện], tức y giáo phụng hành cho được lời Kinh Phật thuyết. Bởi vậy, tương tự như bộ Kinh này, trong bộ Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật cũng phải thuyết ra phần Tịnh Nghiệp Tam Phước, đây có thể cũng xem như những Chánh nhân [như trong Kinh này] để hành giả tu trì đạt được thành tựu vãng sanh rốt ráo vậy. Bởi vậy nên các Ngài mới hay nói, người tu Tịnh Độ cần phải ra sức giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, dứt lòng tà, giữ lòng thành, kiêng giết, ăn chay, phóng sanh..., rồi [gầy dựng] Tín Nguyện, niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, hay nói ngắn gọn là phải tu Tịnh Nghiệp Tam Phước, Lục Độ Vạn Hạnh cho tốt, như thế mới dễ bề tu trì Tịnh Độ để đi đến sự chắc chắn thành tựu trong đời được. 

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 25. Vãng Sanh Chánh Nhân

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.