Điều đáng tiếc là chẳng phân tà - chánh!
Đọc thư của các hạ, biết các hạ là một vị quân tử đức dầy. Điều đáng tiếc là chẳng phân tà - chánh! Thoạt đầu, lầm lẫn tưởng pháp được truyền bởi Đồng Thiện Xã là Phật pháp, chẳng biết đấy là pháp luyện đan vận khí để dưỡng thân thể nhằm mong sống lâu, tăng tuổi thọ, lầm lạc mong mỏi thành tiên! Họ nói đến “tịnh tọa, dụng công” đều là dùng công phu vận khí, trọn chẳng có hơi hướng Phật pháp, xằng bậy bảo đấy là Phật pháp! Ví như đem mắt cá coi là trân châu để rồi quý trọng, cho là kỳ trân (hiếm lạ, quý báu)! Đến khi các hạ đọc Văn Sao, tuy đã thật thà niệm Phật, rốt cuộc vẫn chẳng chịu bỏ cách luyện đan vận khí, vẫn tưởng đấy là Phật pháp! [Như vậy là] miệng tuy niệm Phật, trong tâm vẫn chú trọng ngoại đạo!
Ngoại đạo đều lấy những thứ cảnh giới thần kỳ quỷ quái để mê hoặc người khác! Nếu các hạ đã biết Phật pháp, tận tình vứt bỏ pháp luyện đan đã tu thì chánh niệm trong tâm sẽ rạng ngời như mặt trời rực rỡ giữa hư không; nào còn có chuyện lỵ - mị - võng - lượng giở trò tác quái nữa! Tâm địa các hạ chánh đại quang minh thì bọn yêu ma quỷ quái kia sẽ tự chẳng còn chỗ đứng! Do các hạ coi tà là chánh, luôn lầm lạc muốn đắc thần thông, mong có khả năng tiên tri, nên chiêu khởi ma quỷ hiện xằng tướng yêu ma nơi thân ông. Tuy ông tà - chánh chẳng phân, nhưng vẫn chưa hoàn toàn nghĩ những tướng yêu mị của ma quỷ là đúng cho nên vẫn còn cứu được! Nếu tưởng đấy là đắc đạo, đắc thần thông thì muốn chẳng bị chết vì ma cũng chẳng thể được! Nguy hiểm đến cùng cực!
Thân - khẩu - ý ba nghiệp hãy nên chuyên chú vào tu trì Tịnh nghiệp
Ông đã hỏi Quang thì hãy nghe theo lời Quang. Từ nay trở đi, những công phu đã tập tành từ trước đều hoàn toàn vứt bỏ, tâm chẳng còn có một tơ tóc trân quý [những pháp ấy nữa]! Hãy chí thành, khẩn thiết sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, thân - khẩu - ý ba nghiệp hãy nên chuyên chú vào tu trì Tịnh nghiệp. Trong tâm ông đã không có tà kiến, lại còn có oai đức thần lực của danh hiệu Phật thì lũ ma quỷ kia sẽ trốn chạy còn không kịp, nào dám lưu lại giây lát để gây chướng ngại cho ông ư?
Chúng nó gây chướng ngại là do tà tâm của ông cảm vời! Ví như chủ nhân dứt lòng tà, giữ lòng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính mình để khôi phục lễ nghĩa, lời lẽ lẫn hành vi đều hợp với đạo Thành - Minh thì những gã ám muội tiểu nhân có hành vi phóng túng, tà vạy, xa xỉ, buông lung, không kiêng sợ làm sao dám lên điện đường của người ấy, dám vào trong nhà của người ấy cho được? Như dưới ánh sáng lớn lao, trọn chẳng có tối tăm; trong khi nắng gắt, trọn chẳng có băng, sương!
Bất luận chúng nó là hồ ly, là ma, hay là oán gia đời trước...
Ông đã hoàn toàn nương theo Tịnh Độ để tu tập thì chẳng cần phải coi những điều mong mỏi [như đã nêu] trong phần trước là đúng, sẽ như vị chủ nhân sáng suốt, tỉnh ngộ, biết chúng là giặc thì chúng sẽ tự tránh xa. Nếu tưởng chúng nó là người trong nhà của chính mình thì chúng nó sẽ thành chủ nhân, nhập vào tâm khiếu của ông, khiến cho ông bị ma dựa phát cuồng đến nỗi táng thân mất mạng! Bất luận chúng nó là hồ ly, là ma, hay là oán gia đời trước, chỉ nên phát Bồ Đề tâm, trì danh hiệu Phật, chúng sẽ bị tiêu diệt. Nếu như chẳng tiêu thì trời đất sẽ đổi ngôi, mặt trời, mặt trăng sẽ xoay ngược!
Lâu ngày chầy tháng, toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm
Điều đáng lo là tâm ông chẳng nương theo chánh lý, vẫn giữ những tà tri tà kiến trước kia; đừng bảo lời Ấn Quang nói chẳng linh, dẫu là lời chư Phật nói cũng chẳng thể linh được! Bởi căn bản đã là tà thì chánh không có cách nào thi thố được! Viết ra những điều này, mong ông hãy thấu hiểu rõ ràng thì may mắn lắm thay!
Văn Sao đã nêu đủ pháp tắc tu trì, ở đây không viết cặn kẽ nữa! Phàm khi tịnh tọa, trong tâm chỉ nên thầm niệm Phật hiệu, ngoài ra chẳng thêm vào một công phu hay một ý niệm nào khác! Lâu ngày chầy tháng, toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, tâm - Phật bất nhị, tâm - Phật như một. Hỏi xem có loại Thiền Định nào đạt được sự sâu mầu như thế hay chăng? Có công phu nào cao thượng như thế hay chăng? Nếu các hạ y theo đây để tu, đảm bảo nghiệp chướng tiêu diệt, phước huệ tăng trưởng, trong hiện đời khi còn sống liền dự vào bậc thánh hiền, lúc lâm chung lên thẳng cõi Cực Lạc!

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà cao 24m, tại chùa Kim Tiên, vủng Bảy Núi, Tịnh Biên, An Giang.
Đoạn đầu: Đọc thư của các hạ, biết các hạ là một vị quân tử đức dầy. Điều đáng tiếc là chẳng phân tà - chánh!
Trong tu học quan trọng nhất là phân biệt được tà - chánh, bởi nếu không phân biệt rõ hay có sự nhầm lẫn thì đường tu sẽ rất nguy hiểm, càng tu sẽ càng lầm đường lạc lối, càng đi vào con đường tà đạo, tức là đọa lạc càng sâu vậy. Ở đây là nói chung chứ không phải chỉ có pháp luyện khí luyện đan [tức pháp luân công] như trong bài này. Cho dù là người niệm Phật cầu vãng sanh đi nữa nhưng tâm bất chánh, hay làm những điều tà vậy, xấu ác thì cũng như thế thôi, chẳng những không thành tựu được mà còn đọa lạc sâu vậy, tức là "miệng tuy niệm Phật, trong tâm vẫn chú trọng ngoại đạo". Cho nên các Ngài hay khuyên rằng người niệm Phật cầu vãng sanh trước hết phải "giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành..." là vậy.
Đoạn tiếp: Hãy chí thành, khẩn thiết sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, thân - khẩu - ý ba nghiệp hãy nên chuyên chú vào tu trì Tịnh nghiệp. Trong tâm ông đã không có tà kiến, lại còn có oai đức thần lực của danh hiệu Phật thì lũ ma quỷ kia sẽ trốn chạy còn không kịp, nào dám lưu lại giây lát để gây chướng ngại cho ông ư?
Trong đoạn này chỗ nào quan trọng nhất? "Hãy chí thành, khẩn thiết sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương" hay "thân - khẩu - ý ba nghiệp hãy nên chuyên chú vào tu trì Tịnh nghiệp", dạ vâng, những chỗ này thì quan trọng rồi, nhưng có chỗ còn quan trọng hơn, đó là "trong tâm ông đã không có tà kiến, lại còn có oai đức thần lực của danh hiệu Phật...", đây mới là chỗ trọng yếu, bởi quan trọng đó là trước hết phải đi đúng đường cái đã, sau đó mới luận đến nhanh chậm, nhiều ít, bởi nếu đi lầm đường lạc lối thì đi càng nhanh thì càng đi vào hố sâu vực thẳm, càng khó thoát ra được. Chẳng hạn như đi vào con đường tà đạo thì càng 'tinh tấn' thì càng rước họa vậy. Cho nên trong tu học quan trọng là đừng rơi vào tà kiến, tà đạo, tức kiến giải phải cho đúng, chính xác [lời Kinh Phật thuyết], rồi sau đó mới "tín, nguyện, niệm Phật cầu sanh Tây Phương", như thế mới dễ thâm nhập vào cái Pháp, chứ một khi kiến giải không đúng, sai lệch này kia thế thì đã đi sai ngay từ bước đầu rồi, làm sao đi đến chỗ thành tựu viên mãn cho được, nếu như không chịu 'đập phá' đi [cái tư tưởng cũ] mà sửa đổi, học tập lại. Trong tu học ai mà chẳng có những lầm lạc này kia, quan trọng là có nhận ra và mạnh dạn sửa đổi lại hay không mà thôi, "tu" là "sửa" mà, "sửa" đến khi chuẩn xác mới thôi, rồi từ đó mà giữ vững đến cuối đời, thậm chí nếu có tinh thần học hỏi thì dù cho đến cuối đời mới nhận ra chân diện sự thật đi nữa mà vẫn kịp sửa đổi thì vẫn thành tựu như thường, như thế còn hơn cả đời cứ bám chấp mãi vào cái sai lệch, chẳng chịu sửa đổi thì làm sao thành tựu cho được. Bởi vậy trong tu học, bắt gặp được Chánh Pháp là một điều cực kỳ hiếm hoi, cực kỳ 'xa xỉ' vậy, không phải dễ dàng gì có được đâu, trong hàng ngàn hàng vạn con đường may ra mới bắt gặp được Chánh Pháp, cho nên chúng ta phải trân quý, không thể xem thường! Vậy thế nào là Chánh Pháp? Làm sao biết đó là Chánh Pháp? Rất đơn giản thôi, với hành giả Tịnh Độ thì cứ y cứ Kinh giáo [Tịnh Độ] mà tu học đó là Chánh Pháp, không thêm không bớt gì cả. Cho nên trong tu học trước hết hãy học cách 'y Kinh' trước đã [để đừng rơi vào "tà kiến"], rồi sau đó mới gầy dựng dần nên Tín tâm chân thật, chẳng nghi, tất cả đều cần thời gian, quá trình học tập, gầy dựng, quen dần. Để đảm bảo một tấm vé về Tây thì như thế là dễ hay khó? Hay là chúng ta cứ thử gầy dựng công phu cho đạt Nhất tâm bất loạn xem xem như thế nào, dễ hay khó? Bởi ngoài hay cái Pháp này ra thì chẳng còn cái Pháp nào để đảm bảo chắc chắn cuối đời Phật lai nghinh tiếp dẫn như thế cả, hoàn toàn không có pháp nào khác, hoàn toàn không, chúng ta phải hiểu rõ được tầm quan trọng như vậy.
Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập, có nhiều chỗ rất quan trọng. Giờ chúng ta tiếp tục nói về việc gầy dựng Tín Nguyện tâm trong tu học. Chúng ta được biết trong Di Đà Bổn Nguyện có hai chỗ tối quan trọng đó là "nãi chí thập niệm" và "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác", thì cái chỗ đầu "nãi chí thập niệm" chúng ta đã nói nhiều rồi, đó là "cho đến [hạng bét] mười niệm", tức là chúng sanh phải "niệm" [và "nguyện sanh ngã quốc"], nhiều ít đó là do cơ duyên gặp gỡ rồi phát tâm sớm hay muộn, nhưng tất cả đều phải "niệm", không ai được thiếu "niệm", từ lúc phát tâm cho đến khi mãn phần, liên tục, không gián đoạn [liên tục chứ không phải đòi hỏi 'tương tục'], đây là yêu cầu về mặt hành trì, tức là niệm suốt quãng đời còn lại, cho đến lúc mạng chung, nhưng ở đây không yêu cầu giây phút cuối bắt buộc phải niệm nếu cả đời đã tinh tấn hành trì, chỉ có hạng bét thì bắt buộc phải có yêu cầu này vì họ bình thời chẳng có niệm [do chưa phát tâm] hoặc giả là có niệm nhưng chưa chân thật để cầu sanh Tịnh Độ nên không tính, tức là có thể họ cũng có niệm có tu nhưng chỉ cầu những cái Pháp thế gian này kia mà thôi. Đó là nói về "nãi chí thập niệm", còn bây giờ chúng ta nói một chút về chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác" ["nếu không được vãng sanh, tôi không thủ ngôi Chánh Giác"]. Như đã từng nói nhiều lần, chúng ta cần phải 'y Kinh' chỗ này để gầy dựng phát khởi Tín tâm, tức là đưa ra bằng chứng rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết như thế trong Kinh, cho nên không sai chạy đâu được, cho nên nhất định phải tin, không thể hoài nghi được! Vấn đề chỉ có vậy. Chúng ta học tập từ Kinh giáo do Đức Phật Thích Ca diễn thuyết lại, lời Phật thì luôn luôn chân thật, không bao giờ vọng ngữ, nên luôn là điểm nương tựa chắc chắn nhất và phải tin cậy. Cho nên ai không tin không hành theo lời Phật thuyết thì chắc chắn chẳng thể hành đúng Chánh Pháp cho được. Chỉ đơn giản như vậy. Vậy tại sao chúng ta không nói 'y Kinh' với lời Thệ Nguyện của Đức Phật A Di Đà, tức Di Đà Bổn Nguyện [chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác"], mà phải thông qua 'y Kinh' lời Phật Thích Ca thuyết [lại lời Thệ Nguyện của Phật A Di Đà], bởi rõ ràng Phật Di Đà đã thành Phật đến nay đã mười kiếp, cho nên Bổn Nguyện đã thành tựu, không hư dối được, đây là chân lý? Nói chung thật sự là cần phải nương vào cả cái Lý này nữa, để khẳng định Bổn Nguyện đã thành tựu, không hư dối, tuy nhiên để chúng ta 'y Kinh' theo lời Kinh Phật [Thích Ca] thuyết ra thì trở nên đơn giản, dễ dàng phát khởi Tín tâm hơn nhiều, chỉ cần như vậy là chúng ta có thể chặt đứt những mối nghi tiềm tàng bấy lâu ngay, bởi đó chính là những lời từ chính kim khẩu của Phật Thích Ca thuyết ra, nên chẳng thể sai chạy đâu được! Rằng chính Phật Thích Ca đã thuyết rằng Phật Di Đà đã tuyên thệ như thế và đã thành tựu lời Thệ nguyện ấy, nên chỉ cần 'y Kinh' lời Phật Thích Ca thuyết, thế là xong, chẳng cần nghĩ ngợi gì khác, một việc rất đơn giản, rất hiển nhiên mà chúng ta ai ai cũng có thể làm được, miễn là đừng có bị dính mắc vào những kiến giải sai lệch này kia là được. Phần đông chúng ta chẳng chịu 'y kinh' để có Tín tâm chân thật chẳng nghi đó là do chúng ta đang bị những kiểu dính mắc như vậy, hoặc giả là chưa có nhân duyên bắt gặp để được học tập mà nương tựa vào Kinh giáo Bổn Nguyện [để có Tín tâm chẳng nghi]. Rồi từ đó chúng ta cứ giữ như vậy, tinh tấn chân thật hành trì với tâm lực đó cho đến cuối đời thì nhất định thành tựu vãng sanh thôi, chẳng sót một ai cả. Cho nên trong tu học, Kinh giáo, tức lời Kinh Phật thuyết luôn là 'thượng tôn', luôn được đặt lên hàng đầu để tin tưởng và noi theo học tập hành trì vậy.
Văn Sao Tam Biên
Thư trả lời cư sĩ Từ Tử Hỗn
Đại Sư Ấn Quang
