Nói đến bệnh lạ thì ấy chính là oán nghiệp đời trước (Cõi đời thường viết sai chữ Oán (怨) thành Oan (冤). Oan (冤) là oan khuất, còn Oán (怨) là thù). Bệnh do oán nghiệp thì đừng nói thầy thuốc trong cõi đời chẳng thể chữa trị được, dẫu thần tiên cũng không cách nào cứu vớt được! Nếu ông có thể sanh lòng hổ thẹn lớn lao, sửa lỗi trước, từ nay hãy tu tập, dùng tâm chí thành khẩn thiết để xưng niệm thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” thì trước hết những oán nghiệp trong đời trước ấy sẽ do Phật hiệu mà mau chóng tránh xa, kế đến họ được nương vào Phật lực thoát khổ siêu sanh, chắc chắn chẳng đến nỗi [oan khiên] vẫn ràng buộc y như cũ. Nhưng nếu tâm chẳng chí thành và sanh lòng sửa lỗi cũ, từ nay tu tập, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, thì tâm của chính mình sẽ gần gũi với tâm của quỷ, trái nghịch với tâm của Phật. Dẫu niệm Phật đôi chút vẫn khó thể cảm ứng được! Ấy là vì tâm chính mình chẳng thành, chẳng chánh, chứ không phải là do Phật không linh, không hiệu nghiệm!
Trong gia đình thì trọn hết tình nghĩa, trọn hết bổn phận
Ông đã phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tu học Lục Độ, thì trước hết phải thực hiện từ nơi bản thân và trong gia đình. Tự thân thì: Cảnh phi lễ đừng nhìn, lời phi lễ đừng nghe, tiếng phi lễ đừng nói, chuyện phi lễ đừng làm, ngăn lòng giận, chặn lòng dục, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính mình để khôi phục lễ nghĩa, thấy người hiền mong được bằng, thấy kẻ khác chẳng hiền trong lòng tự phản tỉnh; trong gia đình thì trọn hết tình nghĩa, trọn hết bổn phận, như hiếu thảo với cha mẹ, kính anh, nhường em. Phàm trong là người nhà, ngoài là làng nước, đều đối đãi bằng lòng chân thành, trọn chớ nên mang ý niệm khinh khi, dối gạt, lăng nhục. Lại hãy nên thương xót người đời ngu si, dùng nhiều cách khuyên dụ để họ đừng giết hại sanh mạng để khỏi phải chịu khổ giết hại lẫn nhau [để báo thù] trong vị lai. Lại khuyên họ thường niệm Phật hiệu cầu sanh Tây Phương, sẽ chẳng đến nỗi lại sanh trong thế giới Sa Bà khổ não này để [tiếp tục] luân hồi lục đạo, trọn chẳng có thuở ngoi đầu ra được!
Nếu có thể y theo đó tu trì thì...
Nay gởi cho ông một gói Văn Sao gồm ba bộ, một bộ tự giữ, hai bộ kia tặng cho kẻ có tín tâm, biết cung kính, thông văn lý. Pháp tắc tu trì đã nói rõ trong ấy. Nếu muốn dễ hiểu rõ, xin hãy đọc trước lá thư Quang gởi cho bà Từ [Phước Hiền]. Tiếp đó xem thư Quang gởi cho ông Cao Thiệu Lân, Trần Tích Châu. Cuối cùng mới đọc hai mươi mấy lá thư Quang gởi cho cư sĩ X… ở Vĩnh Gia sẽ tự biết đầy đủ. Văn tuy chất phác, kém cỏi, nhưng ý vốn lấy từ kinh luận của Phật, của Tổ rồi dùng những lời lẽ rõ ràng, nông cạn để giảng rõ, chứ trọn chẳng có lời nào bịa đặt. Nếu có thể y theo đó tu trì thì thân tâm sẽ thanh tịnh, nghiệp chướng tiêu trừ, đến khi lâm chung vãng sanh Tịnh Độ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, thì những oán gia trong đời trước ấy quả thật là bậc đại đạo sư [hướng dẫn] ông thoát ra biển khổ. Họ cũng sẽ nương theo sức tu trì của ông mà lìa khổ được vui. Ấy gọi là “lấy bệnh làm thuốc, biến oán thành ân”. Nếu chẳng phát tâm chân thật, sợ rằng sự báo oán sẽ chẳng phải chỉ có như vậy mà thôi đâu!

Nam Mô A Di Đà Phật
Đoạn đầu: Nói đến bệnh lạ thì ấy chính là oán nghiệp đời trước (Cõi đời thường viết sai chữ Oán (怨) thành Oan (冤). Oan (冤) là oan khuất, còn Oán (怨) là thù). Bệnh do oán nghiệp thì đừng nói thầy thuốc trong cõi đời chẳng thể chữa trị được, dẫu thần tiên cũng không cách nào cứu vớt được!
Nói rõ hơn dạng bệnh này đó là do oan gia trái chủ gây ra. Những bệnh dạng này thì chỉ có sám hối, niệm Phật, hồi hướng để giải oan, tiêu trừ nghiệp chướng thì mới mong hết khỏi thôi, chứ thầy thuốc, bác sĩ thì cũng giúp ích được gì đâu. Hay nói cách khác, những bệnh dạng này không phải do các vi sinh vật như vi trùng, vi khuẩn, hay vi rút... gây ra, mà là do một 'cá thể' vô hình nào đó xâm nhập, tác động vào cơ thể chúng ta gây ra bệnh, chẳng hạn một căn bệnh đang ngày càng phổ biến tràn lan hiện nay là bệnh ung thư. Đây cũng có thể xếp vào dạng này, tức do oan thân trái chủ gây ra, chẳng hạn do sát sanh hại vật quá nhiều gây ra, hoặc do nạo phá thai gây ra [những người đã từng nạo phá thai về sau rất dễ mang bệnh này], nguyên nhân bản chất căn bệnh đó là do các vong bị giết hại xâm nhập vào cơ thể để gây hại báo thù, đòi mạng, oan oan tương báo vậy, ngay hiện đời luôn. Với các dạng bệnh này thì nếu là hành giả tu Tịnh Độ thì chỉ cần nhất tâm niệm Phật cầu vãng sanh thôi, cùng tích cực sám hối hồi hướng cho tất cả oan thân trái chủ nhiều đời nhiều kiếp, cứ như thế hành trì, thì nếu thọ mạng còn thì tiêu nghiệp hết bệnh, nếu thọ mạng hết thì vãng sanh, liễu thoát sanh tử. Còn các bệnh liên quan đến các vi sinh vật như vi trùng, vi khuẩn, vi rút..., nói chung là những sinh vật hữu hình gây ra, thì mới dùng thuốc có hiệu quả, còn các dạng bệnh do chúng sanh vô hình gây ra thì thầy thuốc, bác sĩ dùng các dạng vật chất hữu hình [thuốc men, dược phẩm...] như thế thì liệu có tác dụng gì đâu với họ?! Cho nên chữa bệnh phải biết mầm bệnh là do đâu mới được.
Tiếp theo: Nếu ông có thể sanh lòng hổ thẹn lớn lao, sửa lỗi trước, từ nay hãy tu tập, dùng tâm chí thành khẩn thiết để xưng niệm thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” thì trước hết những oán nghiệp trong đời trước ấy sẽ do Phật hiệu mà mau chóng tránh xa, kế đến họ được nương vào Phật lực thoát khổ siêu sanh, chắc chắn chẳng đến nỗi [oan khiên] vẫn ràng buộc y như cũ.
Nói chung những người có dạng bệnh này mà phát tâm tu tập cầu giải thoát, chí thành niệm Phật cầu vãng sanh thì cả bản thân lẫn oán thân trái chủ đều được lợi ích chân thật. Nhẹ thì tiêu nghiệp hết bệnh, tức họ không còn oán hận nữa, buông bỏ không chấp trước, cùng công đức được hồi hướng giúp họ được siêu thoát, còn như họ quyết 'theo đuổi' tới cùng thì đến lúc lâm chung có thể họ cùng phát tâm Tín Nguyện niệm Phật theo thân chủ và đại chúng mà cùng được Phật đón rước, cho nên cùng lúc tự lợi lợi tha, cùng giúp cho nhiều chúng sanh hữu tình cùng được giải thoát. Dạng này cũng khá phổ biến chứ không ít. Quan trọng là bản thân phải tu hành cho nghiêm túc, chân thật.
Đoạn tiếp: Ông đã phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tu học Lục Độ, thì trước hết phải thực hiện từ nơi bản thân và trong gia đình. Tự thân thì: Cảnh phi lễ đừng nhìn, lời phi lễ đừng nghe, tiếng phi lễ đừng nói, chuyện phi lễ đừng làm, ngăn lòng giận, chặn lòng dục, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính mình để khôi phục lễ nghĩa, thấy người hiền mong được bằng, thấy kẻ khác chẳng hiền trong lòng tự phản tỉnh.
Nói chung đây chính là "đoạn ác, tu thiện", việc này cần cố gắng phấn đấu tu tập cả đời chứ chẳng phải nói muốn "đoạn" là đoạn được ngay tất cả đâu. Sống giữa cõi đời ô trược này không dễ gì đạt sự hoàn hảo cả đâu, lúc tiến lúc lùi, lúc xuôi lúc ngược là chuyện thường, miễn là càng tu thì 'tiến' càng nhiều hơn 'lùi', 'đoạn' càng nhiều hơn mắc phải là có thể chấp nhận. Miễn là chúng ta phải duy trì và ổn định cái tâm tu đạo ngày càng kiên cố, vững chắc, phàm phu chỉ cần có vậy, chứ đừng quá cầu toàn hay đặt những tiêu chí quá cao, quá tuyệt đối gì đó, không khéo lâu ngày sẽ thành ra 'ngôn hạnh' không tương ưng, tức lời nói và việc làm không tương xứng, thậm chí trái nghịch luôn, nói một đằng làm một nẻo. Tu hành thời Mạt pháp này dạng đó có không? Nhiều, rất nhiều là khác, thậm chí dạng 'núp bóng' thầy tu hay cư sĩ gì đó rồi cứ mặc sức tạo tác, tạo tình tạo tội. Những dạng này đó là từ đâu? Đó chính là từ sự giả dối, giả dối trong lời nói, trong hành vi, rồi ngôn hành không tương ưng, riết rồi đến mức trái nghịch luôn, chẳng còn tâm hổ thẹn, tâm sám hối là gì nữa. Mà một trong những nguyên nhân sâu xa đó chính là từ những 'tiêu chí', chuẩn mực gì đó xa rời thực tiễn khiến bản thân không thực hiện được, hoặc giả thực hiện được quá ít, rồi lâu ngày thành 'thói quen', nói là một chuyện còn hành lại là 'chuyện khác' vậy. Cho nên chẳng thà cứ bình bình vừa vừa sức thôi, rồi cố gắng nâng cao dần lên theo thòi gian, quan trọng là đạo tâm đạo lực ngày càng vững mạnh, không được lui sụt, lời nói và việc làm phải tương ưng, rằng tệ thì nói tệ, xấu thì nói xấu để còn tu sửa, khắc phục, luôn có thái độ khiêm tốn, học hỏi, như thế thì mới bền lâu và tiến bộ được.
Các phần còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Thư trả lời cư sĩ X…
Đại Sư Ấn Quang
