Chánh kinh:
Tự nhiên vô vi, hư không vô lập. Đạm an vô dục, tác đắc thiện nguyện. Tận tâm cầu sách, hàm ai từ mẫn, lễ nghĩa đô hợp. Bao la biểu lý, quá độ giải thoát.
Tự nhiên vô vi, hư không chẳng lập. Ðạm bạc, an tịnh, vô dục tạo thành thiện nguyện. Tận tâm tìm tòi, gắng gỏi, xót thương từ mẫn, đều hợp lễ nghĩa. Sự lý viên dung, vượt khỏi sanh tử, giải thoát.
Giải:
Hai chữ “tự nhiên” xuyên suốt toàn đoạn kinh này, ấy là do “thích đắc kỳ Trung” (khế hội Trung Ðạo) nên tự nhiên như thế.
“Tự nhiên vô vi” là chẳng do tạo tác, tự nhiên an trụ trong pháp vô vi. Ðấy là vô vi chân thật. Nếu là do tạo tác thì đã trở thành hữu vi mất rồi. Chữ “hư không” ngụ ý tâm như hư không, rộng mở vô hạn, ly cấu vô nhiễm, chẳng nhận chứa mảy trần. “Vô lập” (chẳng lập) nghĩa là chẳng lập một pháp nào cả.
“Ðạm” (淡) là đạm bạc, “an” (安) là an tịnh. Chữ “đạm an” còn dùng để mô tả trạng thái nước tuôn chảy êm đềm, đầy tràn. Bài phú của Tống Ngọc trong bộ Văn Tuyển có câu: “Hội đạm an nhi tịnh nhập” (Nước tuôn tràn êm đềm cùng chảy). Sóng nước liên tục tựa như luôn tiếp nối nhau nên được dùng để ví cái tâm lìa khỏi Ðoạn lẫn Thường. Dòng nước êm đềm, tràn đầy ví như cái tâm bình đẳng, viên mãn.
Sách Ðại Thừa Nghĩa Chương giảng chữ “dục” (欲) trong “vô dục” như sau: “Nhiễm ái trần cảnh gọi là Dục”. Sách còn bảo: “Muốn nhận lấy duyên thì gọi là Dục”. Câu Xá Luận lại bảo: “Dục là mong cầu làm ra sự nghiệp”.
Theo đó, những điều như “xả chư ái trước” (bỏ các chấp trước ái kiến) và “diệc vô hy cầu, bất hy cầu tưởng” (cũng chẳng có ý tưởng mong cầu hay chẳng mong cầu) được nói trong kinh này đều là “vô dục” cả.
Ba câu vừa giảng trên đều thể hiện ý “về mặt lý chân thật Thật Tế, chẳng nhận lấy mảy trần”; nhưng đối với muôn hạnh môn lại “chẳng bỏ một pháp nào” nên kinh mới dạy tiếp: “Tác đắc thiện nguyện, tận tâm cầu sách” (Tạo thành thiện nguyện, tận tâm tìm tòi, gắng gỏi), hiển thị rõ ràng diệu nghĩa sự lý vô ngại, viên dung tự tại. (...)
Tiếp đó, chữ “hàm ai” (含哀: xót thương) chỉ tâm đại bi. “Từ mẫn” (慈愍) là tâm đại từ. Do đại từ bi nên dẫu biết rõ thật sự không có chúng sanh để độ, nhưng hạnh nguyện độ sanh vẫn chẳng cùng tận. Bởi thế “tâm thường đế trụ độ thế chi đạo” (tâm thường trụ chắc nơi đạo độ thế), “dục chửng quần manh, huệ dĩ chân thật chi lợi” (muốn cứu vớt quần manh, ban cho cái lợi chân thật). Cái đại nguyện được kết thành ấy tự nhiên khế lý khế cơ, chiếu Chân, đạt Tục; do khế lý chiếu Chân nên đại nguyện ấy lấy Thật Tướng làm Thể, liễu nghĩa rốt ráo, lực dụng vô lượng. Do khế cơ và thấu hiểu thế gian nên khéo phù hợp cơ nghi.
“Lễ nghĩa đô hợp” (Đều hợp lễ nghĩa): Lễ nghĩa chính là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, tức là đạo đức thế gian. Hai chữ này chẳng những để chỉ đạo đức của xã hội đương thời hay thời cổ Ấn Ðộ mà còn chỉ chung tất cả các chuẩn mực, quy luật đạo đức của xã hội trong các thời đại mai sau. Ðại nguyện đã phát phải phù hợp với đạo đức xã hội thì mới được xã hội đương thời chấp nhận; có như vậy mới có thể hoằng dương giáo nghĩa, lợi khắp các chúng sanh được.
“Bao la biểu lý” (tạm dịch: Sự lý viên dung): “Bao” (包) là chứa đựng; ngài Gia Tường giảng: “La (羅) là thâu tóm”. Như vậy, “bao la” nghĩa là bao dung, hàm chứa. “Biểu” (表: bên ngoài) chỉ sự tướng; “lý” (裏: bên trong) chỉ lý thể. Do đó, “bao la biểu lý” chính là Sự lẫn Lý cùng viên mãn, Chân lẫn Tục cùng chiếu, trọn thâu các điểm nhiệm mầu, nhiếp khắp muôn loại, thượng trí hạ ngu đều được độ thoát. Thế gian, xuất thế gian đều dung thông vô ngại.
“Quá độ” (過度): Bản Ngô dịch ghi tựa đề kinh này là Quá Ðộ Nhân Ðạo Kinh; quá độ nghĩa là tự mình thoát khỏi sanh tử lại còn khiến cho người khác cũng thoát sanh tử.
“Giải thoát” (解脫) là cởi bỏ những trói buộc của Hoặc nghiệp, thoát khỏi cái khổ tam nghiệp. Sách Duy Thức Thuật Ký nói: “Giải là rời khỏi triền phược, Thoát là tự tại”. (...)
Ảnh minh họa: "Bấy giờ, Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Từ đây tới phương Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Trong cõi đó, có đức Phật hiệu A Di Đà, hiện đang nói pháp.”"
[Kinh A Di Đà bằng tranh]
Chúng ta tiếp tục đến với phần tiếp theo trong Phẩm 32, Thọ Lạc Vô Cực. Trong phần này, Phật tiếp tục nói về các cảnh giới, đạo tâm đạo lực của nhân dân nơi cõi ấy. Rằng "Tự nhiên vô vi, hư không vô lập" [Tự nhiên vô vi, hư không chẳng lập], tức mọi thứ đều là "vô vi", không có giới hạn, vô tận, vô cùng, tâm tánh con người ở đó [cũng phải] tương ưng như vậy, không thể khác, nên nói là "tự nhiên vô vi". Cho nên trong tu học yếu tố ngoại cảnh ngoại duyên cũng vô cùng quan trọng, chúng sẽ ảnh hưởng, chi phối trực tiếp đến tâm tánh, công phu, đạo lực của hành giả rất nhiều chứ không ít. Ở cõi ấy nhờ y báo chánh báo trang nghiêm, thanh tịnh, mảy trần chẳng nhiễm nên tâm tánh con người, nhân dân nơi ấy cũng tự nhiên được khế hợp như vậy.
"Đạm an vô dục, tác đắc thiện nguyện" [Ðạm bạc, an tịnh, vô dục tạo thành thiện nguyện], rằng một khi 'muốn gì có nấy' thì tự nhiên con người không còn 'giành dựt', tranh đấu gì nữa, cũng không mong cầu gì [về dục] nữa, sống "đạm an vô dục" tức an tịnh, không mong cầu, chứ dịch là "đạm bạc" có vẻ không thoát nghĩa hay tròn nghĩa lắm. Rằng nhân dân cõi ấy tùy nghi phương tiện mà hành đạo, tức cũng 'tận dụng' mọi phương tiện thiện xảo, y báo chánh báo có sẳn để hành đạo, giúp thăng tiến trên con đường đạo chứ không phải không cần gì cả đâu. Chẳng hạn, dùng đủ các phương tiện để nghe Pháp, cúng dường khắp các cõi Phật, rồi đến giờ ăn cũng 'dùng bữa', thọ thực, kinh hành, rồi nhà cửa thì tùy ý cao lớn, cái thì trên không trung, cái thì ở đất bằng, tùy ý, tự tại, để phục vụ tối đa cho việc hành đạo, tu tập. Cho nên không phải lúc nào cũng sống "đạm bạc" đâu, chỉ là tất cả vì đạo, chứ không phải vì "dục' [hưởng thụ thuần túy], như vẫn tắm trong nước 'bát đức' ở ao Thất bảo, rồi tiếng gió, tiếng nước chảy, tiếng sóng lăn tăn, tiếng chim hót... đều có thể 'tận hưởng', đều là trợ thủ đắc lực cho đạo tâm đạo lực, chứ không giống như ở cõi Ngũ dục này, rất dễ bị đắm nhiễm, ảnh hưởng đến việc tu đạo.
"Tận tâm cầu sách, hàm ai từ mẫn, lễ nghĩa đô hợp" [Tận tâm tìm tòi, gắng gỏi, xót thương từ mẫn, đều hợp lễ nghĩa], rằng việc tu đạo là phải "Tận tâm cầu sách", ý là tận tâm cầu đạo, học tập, hành trì, chứ không phải cứ để mọi thứ 'tùy duyên', hay 'tự nhiên' được đâu, đến cõi ấy mà còn vậy huống chi ở cõi này, càng phải ra sức, nổ lực gấp bội. Cho nên, chữ 'tùy duyên' trong tu học phải hiểu như thế nào? Đó là tùy hoàn cảnh nhân duyên, căn cơ của mình mà tu tập hành trì, không nên mong cầu những cái không có sẳn [hay giống với người ta], nhưng phải đạt được mục đích là vẫn hành trì, tu tập được tinh tấn, không giải đãi, tức trong hoàn cảnh nào cũng phải sắp xếp, tận dụng, sáng tạo mà hành đạo cho thật tốt. Chứ không phải nói 'tùy duyên' là tùy thuận mọi nhân duyên gặp gỡ, dạng 'sao cũng được', như thế rất nguy hiểm, bởi cõi này duyên chánh đạo thì ít mà duyên tà ma ngoại đạo thì đầy dẫy, chúng ta mà đụng gì cũng tùy thuận, tùy duyên theo hết thì có mà 'toang', chẳng mấy chốc thành bỏ đạo bỏ tu luôn đấy, cái này có trong thực tế không? Dạ nhiều lắm, rất nhiều trường hợp bị như vậy rồi, bởi, nguyên nhân là không có sự mạnh mẽ, cứng rắn, kiên định trong việc hành đạo, tu đạo mà ra cả. Cho nên, chữ "tùy duyên" đó chính là 'con dao hai lưỡi', chúng ta phải biết sử dụng nó cho phù hợp thì sẽ rất tuyệt, còn không thì dễ bị 'đứt tay' lắm đấy.
"Hàm ai từ mẫn, lễ nghĩa đô hợp" [xót thương từ mẫn, đều hợp lễ nghĩa], bởi vậy, trên cõi ấy các vị cũng "chánh trợ song tu", hay "phước huệ song tu" đầy đủ chẳng hề thiếu, tức vẫn tu các Pháp "nhân thiên" như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, chứ không phải chỉ có tụng Kinh, niệm Phật không đâu. Đặc biệt là cái tâm "từ mẫn" là cái không thể thiếu trong việc tu đạo, cho dù tu ở đâu đi nữa, rằng cảnh giới tu tập càng cao thì tâm từ này càng lớn, càng mạnh, càng rộng, cho đến trọn thành Phật đạo thì thương yêu tất cả chúng sanh "còn hơn cha mẹ thương con" vậy. Chứ không phải là các vị đã về được cõi ấy rồi cái là 'bỏ mặc chúng sanh' đâu, dạ hoàn toàn không phải như vậy.
Các phần còn lại chúng ta đọc từ chú giải của các Ngài để thấu rõ hơn. Bây giờ chúng ta nói một chút về việc tu tập của chúng ta ở đây, để một đời này phải về được cõi ấy, để tất cả cùng được hưởng các niềm vui như trên. Rằng, chúng ta đã biết đến cái Bổn Nguyện của Phật, đã hiễu nghĩa lý của nó, nhưng biết, hiểu để làm gì? Chắc chắn là để tin, không nghi, chứ không phải hiểu, biết để mà 'sanh nghi hoặc' [tức tìm cách 'phản biện' lại] hay biết rồi chỉ để đó, tức chẳng chịu thay tâm đổi ý, chuyển nghi hoặc thành tin tưởng, chịu tin nhận [điều đó là thật, không phải giả]. Cho nên, quá trình 'chuyển biến' tâm ý như thế nào [sau khi đã biết], cái này mới quan trọng, và là cả một quá trình, một chặng đường dài chứ không ít, đó là nói dạng chịu thuận theo, nghiêm túc học tập, thâm nhập, chứ còn dạng như tìm cách 'bài bác', phản biện lại thì không bàn đến. Cho nên, nói gì nói cũng phải cần thời gian, để cho 'thấm' dần, như mưa dầm thấm đất vậy, dạng phàm phu chúng ta đa phần trí cạn chướng dày thì đều phải như vậy cả. Bởi vậy, cái Bổn Nguyện này, tức Lời Phật Thệ Nguyện, rằng trong đó Phật đã "thề" như thế ["nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác"], cho nên cái Lý thì rành rành ra thế, không thể không tin được, tuy nhiên áp dụng trong thực tiễn tu học của chúng ta đây, thì phải 'cái chung' đó [tức cái Lý đó, Kinh giáo đó] làm thành 'cái riêng' cho mình mới được, tức thành Tín tâm chân thật của mình, tức người khác có tin hay không đó là việc của họ, còn ta đây chắc chắc cần phải tin không nghi, chứ không phải dạng ai nói sao cũng ngã theo, kiểu gió chiều nào ngã theo chiều nầy, như vậy là không được. Muốn như vậy thì cứ việc 'nhai đi nhai lại' mãi thôi, cho đến khi nào phải 'vỡ' ra được, đến lúc ấy 'cái chung' mới biến thành 'cái riêng' của mình được, tức mình mới 'dùng' được 'cái chung' kia vậy, còn không thì cứ mãi là 'của chung' mà thôi [tức không 'sài' được, không mang đến lợi ích chân thật cho mình được]. Chúng ta phải chú ý chỗ này, rằng đây là lời "Thề" của Phật, chứ không phải là một câu nói thông thường của một ai đó, chúng ta phải đặc biệt 'nhai kỹ', nghiền ngẫm, tư duy sâu chỗ này.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 32. Thọ Lạc Vô Cực
Ngài Hoàng Niệm Tổ
