Thường Được Chư Phật Cùng Khen Ngợi, Rốt Ráo Các Bồ Tát Ba La Mật

 

 

NPSTD7

Thường Được Chư Phật Cùng Khen Ngợi, Rốt Ráo Các Bồ Tát Ba La Mật

Chánh kinh:
Thường vị chư Phật sở cộng xưng tán, cứu cánh Bồ Tát chư Ba La Mật, nhi thường an trụ bất sanh bất diệt chư tam-ma-địa, hạnh biến đạo tràng, viễn nhị thừa cảnh. A Nan! Ngã kim lược thuyết bỉ Cực Lạc giới, sở sanh Bồ Tát chân thật công đức, tất giai như thị. Nhược quảng thuyết giả, bách thiên vạn kiếp bất năng cùng tận.
Thường được chư Phật cùng khen ngợi, rốt ráo các Bồ Tát Ba La Mật, nhưng thường an trụ trong các tam-ma-địa bất sanh bất diệt. Hạnh khắp đạo tràng, xa lìa cảnh Nhị Thừa. A Nan! Ta nay nói đại lược: Công đức chân thật của các Bồ Tát sanh trong thế giới Cực Lạc kia thảy đều như vậy. Nếu nói rộng ra thì trăm ngàn vạn kiếp chẳng thể hết được nổi.

Giải:
Ðây là ý chính thứ ba: Chư Phật cùng khen ngợi để chứng minh, chư Phật đồng thanh ca ngợi tỏ rõ đại sĩ đức hạnh rất sâu.
Chữ “bất sanh bất diệt” trong câu “cứu cánh Bồ Tát chư Ba La Mật, nhi thường an trụ bất sanh bất diệt chư tam-ma-địa” (rốt ráo các Bồ Tát Ba La Mật nhưng thường an trụ trong các tam-ma-địa bất sanh bất diệt) nên hiểu như kinh Ðại Niết Bàn đã dạy: “Niết ngôn bất sanh, Bàn ngôn bất diệt. Bất sanh bất diệt, danh Đại Niết Bàn” (Niết là bất sanh, Bàn là bất diệt. Bất sanh bất diệt thì gọi là Ðại Niết Bàn). Kinh Duy Ma cũng dạy: “Pháp bổn bất sanh, kim tắc vô diệt” (Pháp vốn chẳng sanh, nên nay chẳng diệt).
Tiểu Thừa dựa vào lý Hữu Dư Niết Bàn để quán bất sanh bất diệt nên nghiêng về Thiên Không. Ðại Thừa từ Không nhập Giả nên ngay từ sự tướng hữu vi mà hiển thị lẽ bất sanh bất diệt; ngay nơi tướng chính là đạo, ngay nơi sự chính là chân. Vì vậy nên có thể suốt ngày độ sanh mà suốt ngày chẳng độ, suốt ngày tiếp xúc vạn duyên mà nhất tâm không tịch, lại có thể thực hành rốt ráo cả sáu độ: bố thí, nhẫn nhục… mà vẫn an trụ trong các tam-muội bất sanh bất diệt, chẳng đánh mất định ý.
“Hạnh biến đạo tràng” (hạnh khắp đạo tràng) là đối với những chánh hạnh đạo tràng không chút khuyết thiếu.
“Viễn Nhị Thừa cảnh” (xa lìa cảnh Nhị Thừa) là chỉ nương theo một pháp Nhất Thừa, rốt ráo đạt tới bờ kia. Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận cũng bảo: “Nếu đắm trong [cảnh giới của] địa vị Thanh Văn và địa vị Bích Chi Phật thì gọi là Bồ Tát chết, là mất hết thảy lợi. Dù đọa vào địa ngục cũng chẳng sợ hãi đến thế. Nếu sa vào địa vị Nhị Thừa thì là điều sợ hãi lớn”. Vì vậy, Bồ Tát “viễn Nhị Thừa cảnh”.
Từ chữ “A Nan” trở đi là lời đức Thế Tôn tổng kết: Công đức chân thật của hàng Bồ Tát cõi Cực Lạc chẳng thể nói trọn hết nổi.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 11155588

Nam Mô A Di Đà Phật

Chúng ta đến với phần cuối trong Phẩm 31, Công Đức Chân Thật. Trong đoạn cuối này Đức Phật tổng kết lại phần giới thiệu công đức của hàng Bồ Tát nơi cõi ấy bằng các câu nói như: "Thường được chư Phật cùng khen ngợi, rốt ráo các Bồ Tát Ba La Mật, nhưng thường an trụ trong các tam-ma-địa bất sanh bất diệt", rồi "Nếu nói rộng ra thì trăm ngàn vạn kiếp chẳng thể hết được nổi", tức trên đây chỉ là sơ lược một vài nét cơ bản thôi, còn nếu nói chi tiết rộng ra thì "trăm ngàn vạn kiếp chẳng thể hết được nổi". Nói chung hàng Bồ Tát trên đó đều ở cảnh giới Bát Địa Bồ tát trở lên, thậm chí còn thù thắng hơn nhiều, vì được y báo chánh báo trang nghiêm của cõi Phật cường duyên, hổ trợ nữa, nên càng thêm phần thù thắng, rốt ráo. Cho nên việc được Chư Phật khắp muôn nơi tán thán, khen ngợi cũng chẳng có gì lạ cả, bởi cả Pháp môn cùng cõi nước thì dĩ nhiên có cả 'con người' ở đó cũng phải được Mười phương Chư Phật tán thán vậy. Và với 'lực lượng hùng hậu' này sẽ tự độ độ tha, một mặt thăng tiến trên con đường Đạo để tiến tới quả vị Phật, song song đó là phát tâm 'lặn' vào trong các biển sanh tử ở khắp nơi để độ sanh, chung tay với Phật Di Đà cùng Tam Bảo sở tại để truyền thừa, hóa độ chúng sanh 'Đồng sanh Cực Lạc, đồng kiến Di Đà, đồng ngộ vô sanh, đồng thành Phật đạo'. Bởi vậy, bánh xe Chuyển Pháp Luân là như vậy, cứ tiếp nối triển chuyển không dứt, cứ thế hệ đi trước tiếp nối dìu dắt thế hệ sau, thứ lớp được sanh về cõi ấy để đồng được giải thoát, thẳng tiến đến Nhất thừa Phật quả. Đây cũng có thể xem là một 'đặc trưng' của cõi nước ấy, rằng chúng sanh sau khi được giải thoát, sanh về cõi ấy, sau một thời gian tu tập cho tiêu trừ hết nghiệp, rồi hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh, từ đó là có thể đi muôn nơi tùy ý để độ sanh, chứ không phải chỉ có an trụ một nơi để hành đạo. Dĩ nhiên tất cả đều là 'tùy nguyện' cả thôi, không phải ai cũng như vậy, ai cũng giống ai, nói chung ở đây là hoàn toàn 'tự tại' [tức tùy ý, không có sự ràng buộc nào]. Thật sự, tu tập như thế mới gọi là 'tự tại' đích thực, tức không cần bất cứ một quy tắt quy củ nào cả [trừ ở Biên Địa phải ở vùng ven, phải chịu một số hạn chế, ràng buộc; và dạng phàm phu đới nghiệp vãng sanh được sanh về đó phải ở trong hoa sen một thời gian tu tập cho nghiệp tiêu chướng tận, hoa mới nở, mới được 'tự tại']. Chứ còn ở cõi Ngũ trược này mà muốn 'tự tại' tu tập thì hơi 'xa xỉ', tức chỉ có nhất thời nào đó thôi, còn thì tình hình chung vẫn là bị nghiệp lực chi phối, bức bách, vì sao vậy? Bởi đơn giản là phàm phu thì vẫn còn mang cái thân nghiệp này, tâm thì vẫn còn phàm phu [còn phiền não], bởi đã thoát sanh tử đâu mà chẳng có nghiệp, chẳng có phiền não? Cho nên cõi này phải tu hành trong tư thế bức bách, kham nhẫn, đối trị, chống chịu [với nghiệp lực, chướng ngại], chẳng thể khác được, bởi cái bản chất của cõi này đó là như vậy, và bản chất của chúng sanh sinh trong cõi này là như vậy. Cho nên chúng ta sinh trong ở đây cũng như vậy cả, rằng phải cố gắng, gấp rút, ra sức tu hành để mau mau được giải thoát khỏi đây và sanh về cõi ấy ngay trong một đời này. Đó chính là mục tiêu, là cái đích của việc hành trì tu học đây, chứ đừng nói mong được an lạc, được 'tự tại' gì cả, bởi đã là chúng sanh vốn dĩ đã sinh ra và 'lớn lên' ở đây [tức đã đời đời kiếp kiếp xoay vần ở đây rồi] thì 'tự tại' cái nổi gì cho được chứ, còn muốn tự tại thật sự thì hãy sanh về đó đi, sẽ được tự tại ngay, chẳng cầu chẳng mong mà cũng được an vui, tự tại mãi mãi. Chứ còn ở đây 'tự tại' được phút chốc thì cái 'trược' nó lại xuất hiện ngay, nào là kiếp trược, kiến trược, mạng trược, phiền não trược, chúng sanh trược, chúng thi nhau mà 'hành' cho 'lên bờ xuống ruộng' luôn chứ ở đó mà 'tự tại', 'an nhiên'. Dĩ nhiên đây là chúng ta nói cho hàng phàm phu chúng ta, còn thì bậc Thánh nhân hay Bồ Tát xuất thế độ sanh với đạo tâm đạo lực của các Ngài [đã siêu phàm nhập Thánh] thì chúng ta không luận bàn đến.

Về Kinh văn chúng ta nói chút vậy thôi, giờ chúng ta tiếp tục nói về công việc tu học hành trì của chúng ta vậy. Chúng ta biết trong tu học cần phải Sự - Lý viên dung, tức hổ trợ, tương tác với nhau, như thế mới đảm bảo việc tu tập được đúng đường đúng lối, không bị lầm lạc hay thoái thất. Cụ thể ở đây, việc hiểu đúng nghĩa lý của Bổn Nguyện và tin tưởng Bổn Nguyện đó có vai trò và lợi ích thiết thực gì trong tu học chúng ta? Chúng ta biết hành giả tu học Tịnh Độ sau một thời gian nếu không được hun đúc, khuyến tấn là hay bị thoái thất, lui sụt, rồi Tín Nguyện tâm bị dao động, rằng ban đầu mới phát tâm thì tin chắc dữ lắm, nhưng càng tu lâu, càng được gặp gỡ tiếp xúc nhiều, rồi càng nghe nhiều đọc nhiều, biết nhiều thì bắt đầu phát sanh nhiều cái 'tâm' khác nhau, nhất là trong thời buổi thông tin tạp loạn bùng nổ như hiện nay [và về sau], cho nên giống như 'bơi' giữa một biển pháp vậy, rồi nhiều người lại cho rằng đó mới là hay là cần thiết, chẳng qua là trước kia mình chưa được biết chưa được học, rằng biết như thế hành theo như thế còn chưa ăn thua gì nữa là [dạng chẳng biết hay biết ít], riết rồi càng chạy theo những lý huyền lý diệu, những văn tự câu chữ cao siêu này kia, cho đó là những thứ cần thiết, quan trọng trong tu học, rằng do trước đây chúng ta học 'chưa tới' nên giờ được thấy được nghe [những cái đó] nó cần kíp đến dường nào, rồi cứ như thế, dần xa rời cái Tín Nguyện chân thật hồi nào chẳng hay, nghĩa là sao? Tức là càng ngày càng 'xem thường' những cái tầm thường, cô đọng, những cái đơn giản, dể hiểu, dễ hành, cứ chạy theo những cái cao siêu không với tới được không. Cho nên một khi đã quen thuộc với cái 'cách học' như vậy rồi thì đưa cái Bổn Nguyện ra cái là 'dị ứng' ngay, bởi nghĩ đâu mà đơn giản, cô đọng đến vậy. Rằng thì là, tu học Tịnh Độ là phải nói những thứ cao siêu huyền diệu chứ đâu lại đơn giản tin nhận vài ba chữ của Kinh văn như thế được, rằng chỉ cần tin nhận và hành theo vài ba chữ như thế mà gọi là đủ sao, mà được thành tựu vãng sanh liễu thoát sanh tử chăng? Cho nên rằng, họ nhất định không theo, không tin, hoặc vô tình hay cố ý gì đó mà hiểu sai đi cái nghĩa lý vốn có của nó ra, bởi như thế mới có cái để nói để thuyết để 'có đất diễn' chứ. Cho nên cứ thử nói với họ rằng, chỗ "nãi chí thập niệm" này không phải là dành cho lúc lâm chung đâu [mà chỉ là nói chúng sanh nói chung phải "niệm" cả đời, từ cao đến thấp, cho đến hạng bét mới là "thập niệm" lúc đó], hay như bảo họ đã tu hành cứ tin đi đừng nghi [việc vãng sanh của mình] vì Phật Di Đà đã thề là "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác" [và chính Phật Thích Ca đã thuyết lại], xem họ phản ứng thế nào, rằng họ có 'xổ' ra một tràng rằng phải thế này phải thế nọ phải thế kia hay không? Cho nên cái gì cũng cần phải học tập, thâm nhập dần dần, mới lâu bền và hiệu quả được, còn không thì học tập kiểu 'mì ăn liền' mong cho nhanh cho lẹ thì chẳng hiệu quả, rằng nay tin mai lại ngờ, còn nhắc thì còn tin hết nhắc thì hết tin, thế thì cũng như không chẳng tới đâu. Bởi vậy, tu học phải có chánh tri chánh kiến, phải làm chủ được cái tâm lực của mình, cho dù trước bất kỳ hoàn cảnh nhân duyên nào cũng vậy, [Tín tâm] vẫn chẳng dao động mới được. Chứ còn đụng cảnh đụng duyên [trái nghịch] gì đó, hay không còn nhân duyên [hổ trợ] cái thì thôi, lời Phật lời Tổ gì cũng 'trôi theo mây gió' hết, cứ đồng cứ thuận theo những cái cảnh duyên trước mắt hết mà thôi, thế thì học tập được cái gì?

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 31. Chân Thật Công Đức

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.