Chánh kinh:
Kỳ trí hoằng thâm, thí như cự hải. Bồ Đề cao quảng, dụ nhược Tu Di. Tự thân oai quang, siêu ư nhật nguyệt. Kỳ tâm khiết bạch, do như Tuyết Sơn. Nhẫn nhục như địa, nhất thiết bình đẳng. Thanh tịnh như thủy, tẩy chư trần cấu. Xí thịnh như hỏa, thiêu phiền não tân. Bất trước như phong, vô chư chướng ngại. Pháp âm lôi chấn, giác vị giác cố. Vũ cam lộ pháp, nhuận chúng sanh cố. Khoáng nhược hư không, đại từ đẳng cố. Như tịnh liên hoa, ly nhiễm ô cố. Như Ni Câu thụ, phú ấm đại cố. Như kim cang xử, phá tà chấp cố. Như Thiết Vy sơn, chúng ma ngoại đạo bất năng động cố.
Trí họ sâu rộng ví như biển cả. Bồ Ðề cao rộng ví như Tu Di. Oai quang nơi thân mình vượt xa mặt trời, mặt trăng. Tâm họ khiết bạch ví như núi Tuyết. Nhẫn nhục như đất, hết thảy bình đẳng. Thanh tịnh như nước, rửa các trần cấu. Hừng hực như lửa, thiêu củi phiền não. Chẳng vướng mắc như gió: không chướng, không ngại. Pháp âm sấm rền, giác ngộ kẻ chưa giác. Mưa pháp cam lồ để nhuần thấm chúng sanh. Rộng dường hư không vì đại từ bình đẳng. Như hoa sen sạch vì lìa nhiễm ô. Như cây Ni Câu vì tỏa bóng mát lớn lao. Như kim cang xử vì phá tà chấp. Như núi Thiết Vy vì chúng ma ngoại đạo chẳng thể lay động nổi.
Giải:
Ðây chính là phân đoạn thứ nhất: Dùng các thí dụ để minh thị hạnh đức tự lợi, lợi tha của hàng Bồ Tát cõi Cực Lạc.
Trước hết lấy biển cả để ví trí huệ Bồ Tát rộng sâu. Hoằng (宏) là lớn lao như kinh Hoa Nghiêm nói: “Đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải” (Xin nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như biển).
Tiếp đó dùng núi Tu Di để ví với quả Bồ Ðề cao tột chót vót của Bồ Tát. Núi Tu Di chính là trung tâm của một thế giới. Tu Di (Sumeru) dịch sang tiếng Hán là núi Diệu Cao. Sách Huệ Lâm Âm Nghĩa giảng:
“Hán dịch là Diệu Cao sơn. Do bốn thứ báu hợp thành nên gọi là Diệu. Cao hơn các ngọn núi khác nên gọi là Cao. Hoặc còn dịch là Diệu Quang Sơn vì bốn thứ báu màu sắc, quang minh khác nhau chiếu ngời thế giới”.
Tu Di còn được dịch là An Minh Sơn, Minh đã hàm ý “diệu quang”, lại còn kiêm cả nghĩa thanh tịnh, vô cấu. An là định, là bất động. Vì thế, bản Tống dịch ghi: “Kiên cố bất động như Tu Di sơn”.
Nay kinh dùng núi Tu Di để ví vì:
- Núi Tu Di do bốn báu hợp thành, ngụ ý: Bồ Ðề của Bồ Tát do vạn đức trang nghiêm.
- Núi Tu Di cao nhất trong các ngọn núi. Cũng vậy, không có gì cao hơn Bồ Ðề được cả.
- Núi tỏa quang minh nhiệm mầu. Cũng thế, huệ quang thường chiếu thế gian.
- Núi an tịnh, sáng ngời. An tịnh biểu thị diệu định, như như bất động. Sáng ngời nhằm ví Bồ Ðề khiết tịnh như chất báu vô cấu. (...)
“Nhẫn nhục như địa” (Nhẫn nhục như đất) là dùng cõi đất để ví lòng nhẫn nhục bình đẳng. Bình đẳng chính là lìa các phân biệt. Vãng Sanh Luận Chú giảng về tâm nghiệp vô phân biệt như sau: “Như đất mang chở, nặng nhẹ không khác”. Ðại địa nâng đỡ vạn vật, dù vật nặng hay nhẹ vẫn mang đỡ như nhau, chẳng hề chọn lựa, chẳng hề phân biệt. Do vậy, kinh dùng cõi đất để ví cho đức nhẫn nhục của Bồ Tát, xa lìa hết thảy phân biệt ta - người, ân - oán, trái - thuận.
“Thanh tịnh như thủy” (Thanh tịnh như nước): Bồ Tát thanh tịnh giống hệt như nước sạch, rửa sạch các thứ trần lao cấu nhiễm nên kinh mới nói: “Tẩy chư trần cấu” (Rửa các trần cấu).
“Xí thịnh như hỏa, thiêu phiền não tân” (Hừng hực như lửa, thiêu củi phiền não): Trí huệ ví như lửa, phiền não ví như củi. Trí huệ của Bồ Tát sắc bén, mạnh mẽ, hừng hực như lửa; trừ diệt phiền não như lửa đốt củi.
“Bất trước như phong” (Chẳng vướng mắc như gió): Tánh của gió là lưu chuyển, chẳng trụ vào đâu cả, cũng không chấp trước. Do Bồ Tát không chấp trước nên đi trong các thế giới một cách tự tại vô ngại như gió thổi trên không.
“Pháp âm lôi chấn” (Pháp âm sấm rền): Kinh nói: “Phật ngữ phạm lôi chấn”. Tiếng sấm rền vang xa, rúng động thế gian nên được ví với pháp âm có khả năng giác ngộ quần mê. “Giác vị giác” (giác ngộ kẻ chưa giác) là khiến cho phàm phu chưa giác ngộ được tỉnh giác.
“Vũ cam lộ pháp” (Mưa pháp cam lộ): Dùng cam lộ ví cho giáo pháp của đức Phật. Cam lộ có thể làm cho con người cải tử hoàn sanh. Giáo pháp của đức Phật khiến ta vĩnh viễn dứt khỏi sanh tử, đắc đại Niết Bàn; vì vậy gọi là pháp cam lộ. “Vũ” (雨) giống như trời tuôn mưa nhuần thấm cả ba căn, nên kinh mới nói: “Nhuận chúng sanh” (Nhuần thấm chúng sanh). Kinh Pháp Hoa có câu: “Ngã vi Thế Tôn, vô năng cập giả, an ổn chúng sanh, cố hiện thế gian. Vị đại chúng thuyết cam lộ tịnh pháp. Kỳ pháp nhất vị, giải thoát Niết Bàn” (Ta làm Thế Tôn, không ai có thể bằng nổi. Vì an ổn chúng sanh nên hiện trong đời. Vì đại chúng nói tịnh pháp cam lộ. Pháp ấy một vị giải thoát Niết Bàn). (...)

"Bấy giờ, Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Từ đây tới phương Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Trong cõi đó, có đức Phật hiệu A Di Đà, hiện đang nói pháp.”"
[Kinh A Di Đà bằng tranh]
Đoạn Kinh văn này Phật nói về công đức của hàng Bồ Tát nơi cõi Cực Lạc, các Phẩm trước là nói về trí huệ, thần thông, cảnh giới, còn phẩm này nói về công đức, đạo tâm đạo lực... Rằng "Trí họ sâu rộng ví như biển cả. Bồ Ðề cao rộng ví như Tu Di. Oai quang nơi thân mình vượt xa mặt trời, mặt trăng. Tâm họ khiết bạch ví như núi Tuyết. Nhẫn nhục như đất, hết thảy bình đẳng. Thanh tịnh như nước, rửa các trần cấu. Hừng hực như lửa, thiêu củi phiền não...", đây đúng là cảnh giới của hàng Đẳng Giác Bồ Tát trở lên vậy, chúng ta đọc đoạn Kinh văn cùng chú giải của các Ngài để có thể thêm hiểu biết cũng như học tập được từ nơi các vị ấy ít nhiều cái gì đó vậy, tùy căn cơ hoàn cảnh mà lĩnh hội được càng nhiều càng tốt. Chứ thật ra các phần đoạn Kinh văn này thuộc về kiến thức là chính, nên chủ yếu đọc để hiểu biết, tăng niềm ưa thích được sanh về cõi nước thù thắng ấy thôi, chứ không phải là các Phẩm khuyến tu, hay các phần trọng yếu, tông chỉ để mà bắt buộc phải thực hành cho được [tức "thọ trì"]. Cho nên chúng ta cần phân biệt rõ như vậy, rằng cái nào thuộc về kiến thức [đọc để biết], cái nào thuộc về Tông chỉ [bắt buộc phải đạt được], cái nào thuộc về khuyến tu [nên tu tập theo], chứ không phải như nhiều vị giảng Kinh thuyết pháp cứ lấy cuốn Kinh từ đầu tới cuối rằng hành giả cái nào cũng phải "thọ trì" được như vậy cả, hay chí ít phải năm mươi bảy mươi phần trăm gì đó so với trong đó [thì mới chắc phần vãng sanh]. Dạ không có đâu, cái nào phải rõ ràng cái đó, đừng có nhập nhằng lộn xộn như vậy [hay 'phán' kiểu như vậy]. Rằng những chương này Phật chỉ giới thiệu [sơ lược] cho chúng sanh thấy được cảnh giới, công đức, đạo tâm đạo lực của các vị Bồ Tát trên đó mà thôi, chứ Phật đâu có khuyên chúng sanh phải học tập sao cho được y như vậy đâu. Còn những cái trọng yếu, thuộc về Tông chỉ [tức mang yếu tố quyết định thành bại] thì lại chẳng nói kỹ, nói rõ ràng, và có yêu cầu thật sự. Chứ còn như cảnh giới của hàng Bồ Tát trên đó mà đem áp dụng cho hàng phàm phu tục tử đang ở trong ngũ trược, đang suốt ngày phải đối mặt với ngũ dục lục trần, tham sân si mạn, rồi lửa thiêu nước chìm, ăn nuốt giết hại tàn sát lẫn nhau không ngừng nghỉ [trên quả địa cầu này], hay tà ma ngoại đạo hẫy hừng suốt ngày quấy nhiễu không ngớt thế kia..., chứ có được những cái Y báo Chánh báo trang nghiêm thù thắng, trợ duyên trợ đạo đắc lực như trên đó đâu mà đòi hỏi được như vậy [hay một nửa, hai phần ba gì đó]. Nói tóm lại, rất đơn giản thôi, đọc cuốn Kinh văn từ đầu đến cuối, chỗ nào Phật nói phải "thọ trì" thì phải thọ trì theo [cho được], còn chỗ nào Phật chỉ giảng nói, giới thiệu cho biết thì đó chỉ là kiến thức, đọc để hiểu biết, tăng cái ham muốn được sanh về, còn học tập được cái gì hay cái đó thôi [không bắt buộc], tu học thì phải rõ ràng rành mạch, không có kiểu nhập nhằng, lộn xộn hay cứ thích 'phán' là phán đại ra được.
Về Kinh văn thì chúng ta nói chút vậy thôi, còn để hiểu rõ nghĩa lý, văn tự này kia thì chúng ta đọc chú giải của các Ngài, có đầy đủ chi tiết hết cả, và xin nhấn mạnh rằng tất cả đây chỉ thuộc về phần kiến thức, đọc để biết. Nói chung tất cả những gì thuộc về cõi Cực Lạc mà Phật giới thiệu ra đó thì đều thuộc về kiến thức, giúp chúng sanh có sự hiểu biết, tăng sự ưa thích được sanh về, thêm nhàm chán cái cõi 'bụi nhơ', uế trược này. Để thấy rằng những cái vinh hoa phú quý, hay xa hoa lộng lẫy, hay quyền cao chức trọng, danh vọng địa vị, hay của cải tài sản v.v... nếu so với những thứ trên đó thì liệu có 'đáng xá' gì đâu, cho nên đừng có ham muốn, tham đắm, hay chạy đuổi theo những cái [ngũ dục] đó làm chi, 'cầu dừa đủ xài' là được rồi, bởi rốt cuộc rồi những cái thứ đó lúc ra đi chúng ta có mang theo được không, hay là phải để lại tất cả? Đó là chưa kể để có được mấy cái đó nhiều khi còn phải tạo tác, tranh đấu không ngừng nghỉ chứ đâu phải dễ có, rồi làm tổn phước báu tăng thêm nghiệp chướng chứ được gì, chưa kể làm ảnh hưởng đạo tâm đạo lực, thời gian, tâm trí, sức lực... Nói chung rằng người đã hiểu đạo, phát tâm tu cầu giải thoát rồi thì cần phải buông bỏ dần những kiểu ham thích, mong muốn của thế gian đi, để dành thời gian, tâm trí cho việc tu đạo, hướng đến cái tương lai chân thực của ta ở phía trước, tức hướng đến những gì chúng ta tích lũy mang theo được [và có lợi ích chân thật], còn những thứ giả, tạm, dạng nay còn mai mất, nay thuộc người này mai sang tay người khác, những thứ đó cố chạy đuổi theo, cố tranh giành nắm bắt lấy để mà làm gì?
Chúng ta tiếp tục nói một chút về vấn đề tu trì, gầy dựng Tín Nguyện tâm chân thật để một đời này được liễu thoát sanh tử, vãng sanh chứng bất thoái. Chúng ta đọc các gương vãng sanh từ các trước tác, tập hợp của các Chư Tổ Sư, Đại Đức, thì trong đó có những vị sau khi được vãng sanh về báo mộng lại cho gia đình, người thân, nói rõ về các cảnh giới nơi cõi Cực Lạc được sanh về, nhằm khuyến khích người thân cùng hàng hậu học phát khởi Tín Nguyện tâm chân thật, siêng năng tinh tấn tu trì để cùng được về cõi ấy. Qua lời tường thuật đó cũng như lời Chư Tổ Sư, Đại đức thì cứ mỗi một chúng sanh phát tâm niệm Phật [cùng làm các công đức, hồi hướng] cầu sanh về cõi ấy thì trên đó lại mọc lên một hoa sen mang tên người ấy, tùy theo mức độ tu tập, hành trì mà hoa sen lớn nhỏ, khoe sắc rực rõ ra sao, nói chung thì cái hoa sen đó thể hiện công đức, đạo tâm đạo lực của hành giả đó là như thế nào, lớn nhỏ, mạnh yếu, cao thấp khác nhau, còn như giải đãi biếng nhác thì đương nhiên hoa đó héo úa dần, cho đến rẻ ngang bỏ tu luôn thì hoa sen đó cũng chết theo [cái đạo tâm đó] vậy, lại nữa nếu sau đó phát tâm tu trì trở lại thì lại mọc lên một hoa sen khác [chứ không phải hoa sen cũ 'sống lại']. Thật sự, cái hoa sen đó chính là 'ngôi nhà' mà chúng ta đang xây để sau này được về đó sẽ 'an trú' tại đó, chính xác là như vậy. Cho nên nhân nào quả nấy, không sai chạy chút nào hết, việc ở đây tu trì thế nào thì sẽ có một 'ngôi nhà' tương ứng trên đó y như vậy, chứ chẳng có chuyện 'làm ít hưởng nhiều' hay ngược lại, chẳng có chuyện đó. Và cái vấn đề mấu chốt muốn nói ở đây, đó là làm sao để 'hiện thực hóa' cái điều này, tức thực sự 'sở hữu' được cái 'ngôi nhà hoa sen' đó mà chúng ta đã dày công xây đắp cả một đời này, chứ không khéo một khi chẳng được về đó thì đúng là thành 'dã tràng se cát biển Đông' mất [hoa sen đó sẽ 'lụi tàn' cùng chúng ta]. Cho nên, với một sự thật rằng, mỗi hành giả chúng ta đây hiện tại là đã có một 'ngôi nhà' trên đó rồi đó, chân thật là vậy. Và điều đó có ý nghĩa gì? Đó tức là về nguyên tắc chúng ta đã được Phật sắp đặt cho một chỗ để an vị trên đó rồi, nói cách khác rằng Phật chỉ cần đợi ta hết thọ mạng là sẽ đón ta về đó thôi, theo đúng như Lời Thệ Nguyện của Ngài [tức Bổn Nguyện], nhưng ngặt nổi rằng không phải ai cũng được như vậy, mà có người được rước về có người lại không, lý do là gì? Chúng ta cần phải thấy được cái nguyên do [chính xác, cụ thể] ấy là gì, để mà còn biết đường mà tu học, rằng ai đang 'phạm' phải cái gì thì cần phải dũng mãnh sửa đổi lại ngay, đừng chần chừ. Thật sự, như đã nói, theo nguyên tắc thì sau khi xây được 'ngôi nhà' trên đó [lớn, nhỏ thì tùy] thì Phật sẽ đến đón về lúc cuối đời, nguyên lý [tức đúng như Lý] là vậy, tức Phật phải đón về tất cả, song do xuất phát từ cái trở ngại do chính hành giả đã tạo ra [chứ chẳng phải do Phật, do Pháp hay do bất cứ thứ gì khác], làm Phật không thể đến đón được. Cái trở ngại, hay gọi là chướng ngại đó là gì? Đó chính là do cái Nghi tâm của hành giả đó tạo ra, tự dựng lên làm thành chướng ngại, ngăn cách cảm ứng đạo giao giữa Phật Nguyện Lực và chúng sanh đó [xin lưu ý là chúng ta phải nói đầy đủ và chính xác cái danh từ này: "Phật Nguyện Lực", tức là Phật Lực xuất phát từ cái Bổn Nguyện [Đại Nguyện 18], chứ nói vắn tắt Phật lực không thì đôi khi lại gây hiểu lầm, bởi Phật lực thì có rất nhiều, do xuất phát từ rất nhiều Đại Nguyện khác nhau trong Bổn Nguyện]. Mà một khi không thể có cảm ứng đạo giao thì Phật là Phật, mà chúng sanh là chúng sanh, làm gì có sợi dây liên kết nào nữa, cho nên lúc cuối chẳng có sự gia trì, che chở, cường duyên hay gì cả, và dĩ nhiên cũng chẳng có Phật đến đón về luôn. Tất cả đó là như vậy. Cho nên chúng ta biết được mấu chốt của vấn đề nó nằm chỗ nào rồi, để mà định hướng, tu trì cho đúng pháp đúng lý, thì chắc chắn một đời này sẽ được Phật đến rước về ở tại 'ngôi nhà hoa sen' của chúng ta, thật sự nó đang hiện diện trên đó đấy, mỗi vị có một cái. Cũng xin nói rõ rằng ở đây không luận bàn đến Pháp Biên Địa, còn như ai muốn tìm hiểu hay đi theo cái Pháp đó thì có thể tham khảo theo dõi ở chỗ khác vậy, rằng chúng ta thấy trong Kinh Phật có nói đến Pháp Biên Địa nhiều không, hay chỉ ở một chương duy nhất ["Biên Địa Nghi Thành"].
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 31. Chân Thật Công Đức
Ngài Hoàng Niệm Tổ
