Chánh kinh:
Tri nhất thiết pháp, tất giai không tịch. Sanh thân phiền não, nhị dư câu tận. Ư tam giới trung, bình đẳng cần tu, cứu cánh Nhất Thừa, chí ư bỉ ngạn, quyết đoạn nghi võng, chứng vô sở đắc. Dĩ Phương Tiện Trí, tăng trưởng liễu tri, tùng bổn dĩ lai, an trụ thần thông, đắc Nhất Thừa đạo, bất do tha ngộ.
Biết hết thảy pháp đều là không tịch. Nhị dư: sanh thân và phiền não đều cùng hết sạch. Trong tam giới, bình đẳng siêng tu Nhất Thừa rốt ráo, đạt tới bờ kia, đoạn sạch lưới nghi, chứng vô sở đắc. Dùng Phương Tiện Trí để tăng trưởng liễu tri. Từ đầu đến nay an trụ trong thần thông, đắc đạo Nhất Thừa, chẳng do cái gì khác mà khai ngộ.
Giải:
Ðoạn này nói rõ hạnh đức viên mãn của hàng Bồ Tát cõi Cực Lạc.
“Tri nhất thiết pháp tất giai không tịch” (Biết hết thảy pháp đều là không tịch): “Không” là như trong phẩm Ðệ Tử của kinh Duy Ma đã nói: “Chư pháp cứu cánh vô sở hữu, thị Không nghĩa” (Các pháp rốt ráo vô sở hữu, đó là nghĩa của chữ Không), và cũng như sách Ðại Thừa Nghĩa Chương bảo: “Không là xét theo Lý mà đặt tên. Lý vắng lặng nên gọi là Không”.
Sách Hội Sớ lại bảo: “Bát Nhã diệu huệ chứng tịch diệt bình đẳng nên bảo là "tri nhất thiết pháp giai tất tịch diệt” (chữ “không tịch” được bản Ngụy dịch ghi là “tịch diệt”).
Sách Vạn Thiện Ðồng Quy Tập giảng: “Kinh giáo gọi Không là Không vì nó bất khả đắc, vì nó chẳng có thật tánh, đó là cái Không chẳng bị đoạn diệt”.
Tổng hợp những cách giải thích vừa dẫn, ta có thể nói một cách giản yếu như sau: Bồ Tát cõi Cực Lạc do trí huệ Bát Nhã mầu nhiệm nên biết rõ hết thảy các pháp đều rốt ráo là vô sở hữu, bất khả đắc, bình đẳng không tịch; tuy biết chắc hết thảy pháp đều là không, nhưng chẳng đoạn diệt. Cái không tịch này là Thật Tế lý thể, chứ không phải là Ðoạn Không. Nó là Ðệ Nhất Nghĩa Không, là cái Không chẳng bị đoạn diệt. Khế nhập được Tịch Diệt bình đẳng như thế nên kinh mới nói: “Tri nhất thiết pháp tất giai không tịch” (Biết hết thảy pháp đều là không tịch).
Chữ “sanh thân” chỉ chung cái thân Phần Đoạn Sanh Tử và cái thân Biến Dịch Sanh Tử (ở đây, chữ “sanh thân” chỉ cái thân Biến Dịch Sanh Tử của Bồ Tát). Sanh thân chính là một pháp trong “nhị dư”.
“Nhị dư” chính là khổ báo nơi sanh thân và tàn dư phiền não. Sanh thân là khổ quả, phiền não là nhân của các Hoặc chướng. Cả hai thứ tàn dư này đều hết sạch nên kinh mới nói: “Sanh thân phiền não, nhị dư câu tận” (Sanh thân, phiền não, nhị dư đều cùng hết sạch).
Sách Hội Sớ bảo: “Sanh thân là khổ quả vướng vào thân, nó chính là Khổ Ðế. Phiền não là Kiến Hoặc, Tư Hoặc. Đó chính là Tập Ðế”.
“Nhị dư” chính là tàn dư của Khổ và Tập. Bồ Tát đoạn được chánh sử và tập khí nên chẳng còn tàn dư, vượt khỏi tam giới, không còn phải do cha mẹ sanh ra mới có thân, đoạn sạch tất cả triền phược thuộc hữu lậu quả nên kinh nói là “câu tận” (cùng hết sạch).
Ngài Cảnh Hưng lại bảo: “Sanh thân là báo, phiền não là nhân tạo khổ. Cả hai thứ nhân lẫn quả đều đã hết sạch”.
Ngài Tịnh Ảnh lại bảo: “Sanh thân là khổ báo. Phiền não là cái nhân gây Hoặc chướng. Hai thứ tàn dư này đều đã diệt sạch”. Bởi thế mới bảo là: “Nhị dư câu tận” (Hai thứ tàn dư sanh thân và phiền não cùng hết sạch).
“Nhất Thừa” là con đường duy nhất để thành Phật, là giáo pháp tối cực viên đốn. “Thừa” (乘) là cỗ xe, thường được ví với giáo pháp của Phật. Giáo pháp có khả năng chuyên chở hành nhân đến được bờ kia Niết Bàn nên gọi là Thừa.
Sách Thắng Man Bảo Quật, quyển thượng viết: “Nhất Thừa là đạo cùng tột không hai, nên gọi là Nhất. Vận dụng tự tại thì gọi là Thừa”. Kinh Thắng Man cũng dạy: “Nhất Thừa tức thị Đệ Nhất Nghĩa Thừa” (Nhất Thừa chính là Ðệ Nhất Nghĩa Thừa). Ngài Cảnh Hưng lại bảo: “Nhất Thừa chính là trí, tuy có ba nhưng xét đến cùng cực thì chẳng có hai, nên gọi là Nhất Thừa”.
Kinh Pháp Hoa chuyên dạy về lý Nhất Thừa, phẩm Phương Tiện của kinh ấy có đoạn viết: “Thập phương Phật độ trung, duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc vô tam, trừ Phật phương tiện thuyết” (Trong cõi Phật mười phương chỉ có pháp Nhất Thừa, cũng chẳng có hai hay ba thừa, trừ phi Phật phương tiện nói như vậy). (...)

Ảnh minh họa: "Ðó là Trưởng lão Xá-lợi-phất, Ma ha Mục-kiền-liên, Ma-ha-Ca-Diếp, Ma-ha-Ca-chiên-diên, Ma-ha-Câu-hy-la, Ly-bà-đa, Châu-lợi-bàn-đà-dà, Nan-đà, A Nan-đà, La-hầu-la, Kiều-phạm-ba-đề, Tân-đầu-lô phả-la-đọa, Ca-lưu-đà-ni, Ma-ha Kiếp-tân-na, Bạc-câu-la, A-nậu-lâu-đà và các vị đệ tử lớn như vậy nhiều nữa".
[Kinh A Di Đà bằng tranh]
Chúng ta đến với phần tiếp theo trong Phẩm 30, Bồ Tát Tu Trì. Các phần trước là nói về thần thông, đạo lực, trí huệ..., còn đến đây là nói về cảnh giới, đức hạnh của hàng Bồ Tát nơi cõi Cực Lạc. Rằng "Tri nhất thiết pháp, tất giai không tịch", tức gồm hai ý, một là "Tri nhất thiết pháp" [biết hết thảy pháp], và [các pháp] đều không tịch. Chứ không phải gộp vào một ý "Biết hết thảy pháp đều là không tịch", biết vậy ai chẳng biết được, vì sao? Bởi pháp vốn không, chẳng có [hay chẳng phải] là chủ thể, cho nên bất sanh bất diệt, tức không tịch. "Không tịch" ở đây ý đơn giản là không có "tịch" [diệt, mất] chứ chẳng phải [hết thảy pháp] đều không và đều tịch. Còn cái vế đầu tiên mới là đáng bàn, "Tri nhất thiết pháp" [biết hết thảy pháp], cái này mới khó, mới gọi là 'đẳng cấp cao' cho các hàng Bồ Tát nơi cõi ấy. Tức là với các vị ấy, Pháp gì cũng biết, Pháp gì cũng thông [nắm rõ như trong lòng bàn tay vậy].
Tiếp theo: "Nhị dư: sanh thân và phiền não đều cùng hết sạch". Cái này thì các vị ấy [hàng Bồ Tát] nên đã chứng 'Lậu tận thông' [tức A La hán] thì đương nhiên chẳng còn phiền não, sanh thân [sanh tử] nữa rồi. Về cõi ấy thì chỉ là 'hóa sanh' hay là 'thai sanh' thôi, dĩ nhiên chẳng còn thọ sanh [sanh tử] nữa. Còn phiền não lại càng không có, một tiếng "khổ" còn không có huống hồ có khổ.
Đoạn tiếp: "Trong tam giới, bình đẳng siêng tu Nhất Thừa rốt ráo, đạt tới bờ kia, đoạn sạch lưới nghi, chứng vô sở đắc". Trên cõi ấy thì chắc chắc chỉ có tu Nhất thừa Phật quả, rồi "đoạn sạch lưới nghi, chứng vô sở đắc", chắc chắn là vậy, bởi còn nghi hoặc thì cho dù cảnh giới tu trì cở nào đi nữa cũng vẫn phải vào Biên Địa, khi nào "đoạn sạch lưới nghi" thì mới được ở trong Chánh quốc. Cho nên chúng ta thấy có chỗ Phật nói rằng: "Này A Dật Đa! Phải biết rằng tâm nghi hoặc tổn hại rất lớn, mất lợi ích lớn đối với Bồ Tát, nên phải tin tưởng minh bạch vô thượng trí huệ của Phật", đến hàng Bồ Tát [trên đó] còn bị tổn hại bởi cái tâm nghi hoặc này, tức là vẫn có thể còn tồn tại nghi hoặc, cho đến khi nào "đoạn sạch lưới nghi" thì mới ra khỏi thai hoa [ở Biên Địa], và được vào Chánh quốc. Cho nên chúng ta mới thấy được cái 'trí huệ chân thật' [tức Tín tâm chân thật] ở đây nó ảnh hưởng đến cảnh giới, việc tu trì [trên đó] như thế nào. Bởi vậy dẫu anh tu trì ở đây siêng năng tinh tấn, hay cảnh giới công phu như thế nào đi nữa nhưng thiếu Tín tâm chân thật thì nếu được sanh vẫn phải vào Biên Địa, rằng "Ở đó năm trăm năm không thấy Phật, không nghe được pháp, không thấy Thánh chúng Bồ Tát, Thanh Văn". Còn như hạng phàm phu tục tử, tức còn nghiệp chướng, nhưng nếu có lòng tin sâu [chẳng nghi] thì khi được sanh về sẽ được vào thẳng Chánh quốc, tức dạng 'hóa sanh', như trong Kinh nói: "Nếu có chúng sanh tin rõ Phật trí, cho đến thắng trí, đoạn trừ nghi hoặc, gieo các thiện căn làm các công đức, chí tâm hồi hướng, nên được hóa sanh ngồi kiết già trong hoa thất bảo, khoảnh khắc được thân tướng quang minh, công đức trí huệ thành tựu đầy đủ như các bậc Bồ Tát vậy". Chúng ta thấy ở đây Phật không đề cập đến rằng hành giả [đương nhân] có còn nghiệp chướng hay không [tức đã đoạn hết Phiền não hay chưa], mà Phật chỉ đề cập đến "tin rõ Phật trí, cho đến thắng trí, đoạn trừ nghi hoặc", tức là có Tín tâm chân thật, "bất sanh nghi hoặc", "chí tâm tin ưa" mà thôi. Nói tóm lại là tin, chẳng nghi cái Bổn Nguyện [lời Phật Thệ Nguyện], thế là đủ, sẽ được 'hóa sanh' khi sanh về cõi ấy. Thật sự rằng, có một chỗ khá khó hiểu, đó là dạng còn nghi hoặc, tức dạng chưa có Tín tâm chân thật, thì phải sanh vào Biên Địa, tức biên giới cõi Phật, rồi ở trong 'thai hoa' không được ra khỏi, cho dù có là hàng Bồ Tát đi nữa; còn ngược lại, dạng phàm phu [tức còn phiền não, chưa hết nghiệp], có Tín tâm chân thật, sanh về đó với dạng 'đới nghiệp vãng sanh', thì khi sanh về đó cũng được 'hóa sanh' ngay chăng? Mà không phải là ở trong hoa thai một thời gian cho tiêu hết nghiệp rồi mới được ra khỏi? Cho nên, nếu quả thật đúng theo như vậy thì cái Tín tâm chân thật đó [tức cái trí huệ chân thật] quả thật quá thù thắng, vi diệu, bởi vừa đảm bảo được sanh sang cõi ấy, mà còn khi sanh sang đó thì lập tức 'hoa khai kiến Phật, ngộ vô sanh' ngay, bởi chúng ta đọc kỹ chỗ này Phật nói "khoảnh khắc được thân tướng quang minh, công đức trí huệ thành tựu đầy đủ như các bậc Bồ Tát vậy", tức là được y báo, chánh báo cõi ấy cường duyên để thành tựu công đức trí huệ, rồi thân tướng quan minh, đầy đủ như Bồ Tát [mặc dù công phu, cảnh giới, năng lực còn kém rất xa]. Trong phẩm tiếp theo, "Hoặc Tận Kiến Phật", Phật cũng chỉ chốt lại vấn đề này khi chỉ đề cập đến cái tổn hại do tâm nghi hoặc mà ra ["Phải biết rằng tâm nghi hoặc tổn hại rất lớn, mất lợi ích lớn đối với Bồ Tát..."], chứ Phật không đề cập đến những tổn hại từ Hoặc nghiệp khác [như Phiền hoặc] thì sẽ không được Hóa sanh, rõ ràng Phật không nói như thế, mà chỉ đề cập đến nghiệp chướng từ Nghi hoặc. Nếu quả thật vậy thì chúng ta thấy rằng, những cái nghiệp chướng khác [như phiền não, tức Phiền hoặc] thì một khi được sanh qua cõi đó thì nhờ những y báo, chánh báo nơi cõi ấy cường duyên [và không còn nhân duyên] thì sẽ được tiêu trừ 'trong một nốt nhạc' ["khoảnh khắc"], hay chí ít thì cũng không bao giờ khởi lên được [nên không cần sống 'cách ly'], nhưng còn cái nghiệp từ Nghi hoặc đó thì thôi, đến hàng Bồ Tát cũng còn 'dính', chúng ta thấy trong Kinh Phật nói rõ như vậy, và khi sanh về đó dù có Y báo Chánh báo thù thắng hay cường duyên cỡ nào đi nữa cũng chịu thua, không cách nào 'tẩy' được, cho nên đành để 'cách ly' các vị ấy trong thai hoa [ở Biên Địa, tức biên giới cõi Cực Lạc] một thời gian cho tự tu trì mà tiêu trừ dần đi vậy, rồi khi đã hết nghiệp đó rồi [tức nghi hoặc nghiệp] mới được ra khỏi.
Nếu luận sâu thêm chút nữa, vậy vì sao cái tâm nghi hoặc lại khó 'tẩy trừ' đến như vậy, còn các Hoặc nghiệp khác lại dễ dàng tẫy trừ hơn nhiều? Chắc bởi có lẽ cái này nó có liên quan đến một chút cái 'trí huệ chân thật' ['trí huệ' chứ không phải trí tuệ của thế gian đâu nhé], mà cái này cần "xa xưa tu phước huệ" một chút, như Kinh nói, chứ chẳng phải tự nhiên mà có được, thế cho nên một khi về đó vẫn phải cần thời gian, tu trì này kia [ở trong hoa thai]; còn cái nghiệp chướng từ Phiền hoặc, cho dù ở đây dẫu còn sâu nặng, nhưng một khi được về đó rồi thì đã dứt sạch nhân duyên, cộng với sự cường duyên của y báo chánh báo nơi ấy, thế nên có thể tiêu trừ 'trong một nốt nhạc' [hay không còn đề khởi nữa] là vậy, bởi suy cho cùng cái nghiệp đó chỉ còn là tập khí, tức dạng 'tàn dư, tồn đọng' khi đã về đó, chứ không phải dạng có chủ đích, hay xuất phát từ cái tâm [như dạng kia].
Các đoạn còn lại chúng ta đọc chú giải của các Ngài để hiểu biết thêm.
Chú Giài Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 30. Bồ Tát Tu Trì
Ngài Hoàng Niệm Tổ
