Chánh kinh:
Vô Lượng Thọ Phật, ý dục độ thoát thập phương thế giới chư chúng sanh loại, giai sử vãng sanh kỳ quốc, tất linh đắc Nê Hoàn đạo. Tác Bồ Tát giả, linh tất tác Phật. Ký tác Phật dĩ, chuyển tương giáo thọ, chuyển tương độ thoát, như thị triển chuyển, bất khả phục kế. Thập phương thế giới, Thanh Văn, Bồ Tát, chư chúng sanh loại, sanh bỉ Phật quốc, đắc Nê Hoàn đạo, đương tác Phật giả, bất khả thắng số.
Vô Lượng Thọ Phật ý muốn độ thoát các loài chúng sanh trong mười phương thế giới đều được sanh về cõi ấy, đều khiến cho họ đắc đạo Nê Hoàn. Kẻ đã là Bồ Tát thì khiến cho đều được thành Phật, người đã thành Phật sẽ lại tiếp nối dạy dỗ, độ thoát người khác. Lần lượt như thế chẳng thể tính nổi. Không thể tính nổi số Thanh Văn, Bồ Tát, các loài chúng sanh trong mười phương thế giới sanh về cõi Phật ấy đắc đạo Nê Hoàn, sẽ thành Phật.
Giải:
Các vị Ðại Sĩ cõi Cực Lạc phát khởi những thệ nguyện sâu thẳm đến mức như thế ấy là do Di Ðà bổn nguyện gia hộ oai thần cũng như bản thân họ khéo học theo hạnh của Phật.
Bổn ý của Phật Di Ðà là nguyện chúng sanh được vãng sanh cõi ấy, đắc đạo Nê Hoàn (Niết Bàn), thảy đều thành Phật. Vị Phật mới thành lại độ chúng sanh. Chúng sanh được độ sẽ lại đều thành Phật rồi lại độ sanh tiếp theo. Vì vậy kinh nói: “Chuyển tương giáo thọ, chuyển tương độ thoát, như thị triển chuyển, bất khả phục kế” (Tiếp nối dạy dỗ, độ thoát người khác. Lần lượt như thế chẳng thể tính nổi).
Do lần lượt độ thoát nhau như thế nên các Bồ Tát, Nhị Thừa, các loài chúng sanh trong tứ sanh, lục đạo trong mười phương được vãng sanh Cực Lạc, chứng đạo thành Phật “bất khả thắng số” (chẳng thể tính nổi số). Ðó là vì số người được vãng sanh đã chẳng thể tính đếm nổi (Nê Hoàn chính là [cách phiên âm khác của chữ] Niết Bàn).

Ảnh minh họa: "Này Xá-lợi-phất, như ta hôm nay ngợi khen lợi ích về công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà. Ở phương Ðông cũng có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Ðại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm. Giống như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật..."
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta đến với phần tiếp theo trong Phẩm 29, Nguyện Lực Hoằng Sâu. Trong phần này Phật nói về "Nguyện Lực Hoằng Sâu", của ai? Của các vị Đại Sĩ cõi Cực Lạc [như đọc chú giải của các Ngài]? Dạ, chẳng phải đâu ạ, mà đó chính là "Nguyện Lực hoằng sâu" của Phật A Di Đà vậy, chẳng phải ai khác, ở đây ý Kinh là như vậy. Vậy ở đây "Nguyện Lực hoằng sâu" là gì? Đó chính là "Vô Lượng Thọ Phật, ý dục độ thoát thập phương thế giới chư chúng sanh loại, giai sử vãng sanh kỳ quốc, tất linh đắc Nê Hoàn đạo", chỗ này nếu dịch Việt cho sát nghĩa để tránh hiểu nhầm và liễu thoát nghĩa hơn sẽ phải là "Vô Lượng Thọ Phật ý muốn độ thoát tất cả chúng sanh loại trong mười phương thế giới, đều được sanh về cõi ấy, tất đắc đạo Nê Hoàn". Tức là ý của Phật A Di Đà là muốn độ thoát tất cả chúng sanh trong Thập phương pháp giới đều được vãng sanh về cõi ấy, và dĩ nhiên là đều sẽ thành Phật. Đây mới là "Nguyện Lực hoằng sâu" đích thực của Phật A Di Đà vậy. Cho nên thành thật mà nói, với Kinh giáo này [Tịnh Độ Tông] nếu có một chút gì đó [còn nặng tư tưởng pháp tự lực] thì việc dịch nghĩa hay chú giải thường hay có một chút 'sơ suất' nào đó trong nghĩa lý của Kinh giáo Phật thuyết, tức kiểu không thoát ý hẳn ra được hoàn toàn, có một chút gì đó 'kềm chế' lại nghĩa lý của Kinh giáo. Dĩ nhiên chúng ta luận về ngữ nghĩa thì phải nói một cách công tâm, thẳng thắn minh bạch, nhưng ngoài cái đó ra chúng ta phải dành sự cung kính cùng cảm niệm ân đức của các Ngài một cách thâm sâu nhất, thật sự vậy, chúng ta đã được hưởng quá nhiều lợi lạc từ việc hoằng pháp lợi sinh của các Ngài, các Chư vị nói chung, điều đó chúng ta không bao giờ được phép xem nhẹ hay lãng quên. Nhưng cái nào phải ra cái đó, trong 'công việc' là phải thẳng thắn, minh bạch, cho nên Phật dạy rằng "y pháp, bất y nhân" là vậy.
Trở lại với phần Kinh giáo, rằng tới đây chúng ta mới thật sự thấy được cái "nguyện lực hoằng sâu" của Phật A Di Đà là như thế nào! Rằng không ngằn mé, không giới hạn, không phân biệt, rằng tất cả chúng sanh trong Thập phương pháp giới đều đã, đang, và sẽ được cái lợi ích như thế. Vấn đề chỉ là thời gian nhanh chậm ra sao mà thôi. Cho nên mới nói Pháp môn này là "phổ độ khắp chúng sanh" là vậy, "phổ độ" tức là sao? Tức là 'càng quét' hết, không sót một ai, theo thứ lớp đều được 'quét' sạch [giống như quang phổ của ánh sáng, tức không có khoảng hở trống, gián đoạn, ngắt quãng]. Bởi vậy nói đến đây chúng ta mới thấy, với Pháp môn này, chúng ta dù ở địa vị, địa phận gì, đừng có tự ti rằng chúng ta không thể về được, rằng không đủ năng lực phước đức hay nghiệp lực nặng nhẹ này kia để về được ngay đời này, mà phải cần tu thêm vài đời vài kiếp gì đó nữa, cho tiêu bớt nghiệp, hay cho đủ phước huệ lúc đó mới tính chuyện về. Dạ suy nghĩ như vậy là rõ ràng không đúng theo lới Phật dạy rồi. Vậy Phật dạy ở đây là như thế nào? Đó là Pháp môn "một đời thành Phật", tức là nếu tu 'ngon lành', như lý như pháp, cứ 'y Kinh Phật thuyết' mà tu mà hành, mà tin tưởng, chẳng nghi thì chỉ cần một đời này thôi, dù phát tâm sớm hay muộn gì, cũng sẽ được Phật rước hết cả, và sẽ thành Phật trong tương lai. Tức là không có 'bị chết' lần nào nữa đâu nhé, hoàn toàn không, dù chỉ một lần, rằng từ giờ đến khi thành Phật trong vị lai sẽ 'sống mãi', không chết, không thọ sanh thêm một lần nào nữa. Như vậy nghĩa là sao? Tức là tu cho đến cuối đời rồi Phật sẽ đến rước về khi 'còn sống', tức lúc chưa tắt hơi, thần trí vẫn minh mẫn, không bị nghiệp lực dẫn dắt kéo đi, rồi khi thần thức đã đi theo Phật về Tây thì dĩ nhiên cái thân xác giả tạm này phải xả bỏ lại thôi [rồi mới tắt hơi, thở ra không hít vào lần cuối], nhưng do nó không phải 'chết' [như người thế gian] nên nó sẽ không bị phân hủy theo thời gian, nếu để đó bao lâu cũng vậy. Cho nên chúng ta mới thấy các ca vãng sanh luôn có thoại tướng đẹp mãi như thế, thậm chí càng lúc càng đẹp, đó là do nó không có bị 'chết', đến ngay cả cái xác dù là giả tạm đó nó cũng không 'chết' luôn, chứ đừng nói đến thần thức. Cho nên đúng là vi diệu thật, không thể nghĩ bàn được.
Như vậy chúng ta thấy "nguyện lực hoằng sâu" của Phật nó 'kinh khủng' như thế nào! Vấn đề là cái "nguyện lực" đó liệu có viên mãn thành tựu hay không, chúng ta nói thêm chỗ này một chút. Dĩ nhiên là Phật đã thành Phật, nên cái Nguyện Lực ấy của Ngài không chóng thì chày sẽ viên mãn thôi, chỉ là vấn đề của thời gian nhanh chậm mà thôi. Chúng ta thấy rằng, đọc trong 48 Đại Nguyện của Ngài không có cái "Nguyện Lực Hoằng Sâu" này [phổ độ khắp chúng sanh trong Pháp giới], mà đây chỉ là "ý dục độ thoát thập phương thế giới chư chúng sanh loại", tức "ý muốn" của Phật là như vậy thôi, chứ chẳng phải đây là "thệ nguyện" [như trong 48 Đại Nguyện kia], chúng ta phải phân biệt rõ chỗ này, cho nên một khi Phật thành Phật [nhờ thành tựu viên mãn 48 Đại Nguyện kia], thì cái "ý muốn" này dĩ nhiên là vẫn chưa thể thành tựu viên mãn hoàn toàn tất cả được [như 48 Đại Nguyện kia]. Tuy nhiên một khi cái "ý muốn" [bổn hoài] đó của Phật hiện hữu, thì sẽ được các Chư Phật cùng các Chư Pháp Thân Đại Sĩ, Chư Bồ Tát, Chư vị chúng sanh trong khắp Pháp giới "triển chuyển" không dứt, cho đến khi nào thành tựu viên mãn hết cả mới thôi. Vì sao như vậy? Bởi đó là do cái "ý muốn" [bổn hoài] đó được lưu truyền theo thứ lớp từng đời từng đời cho mãi đến tột cùng đời vị lai vậy, chẳng lúc nào dứt, chẳng lúc nào ngưng nghỉ cả, cho đến lúc cái 'bổn hoài" đó được viên mãn rốt ráo vậy. Cho nên chúng ta thấy trong 48 Đại Nguyện được Ngài phát ra trong lúc còn tu nhân địa có một cái Nguyện có thể nói là tối quan trọng, đó là Nguyện thứ 17, "Nguyện Được Chư Phật Xưng Tán", đây chính là chỗ để thể hiện cái "ý muốn" [bổn hoài] này của Ngài vậy, ngay từ khi bắt đầu phát tâm lập Thệ Nguyện [48 Đại Nguyện] để thành Phật quả, độ thoát chúng sanh. Chúng ta thấy rằng, đây là một "ý muốn", một "bổn hoài" không thể thành tựu viên mãn ngay lập tức [khi Ngài thành Phật quả, hay khi Ngài còn 'lập địa' thành Phật, Giáo chủ cõi Cực Lạc], mà cần có sự 'chung tay' triển chuyển không dứt, qua từng đời từng đời Chư Phật, Chư chúng sanh [rồi thành Chư Phật], cho đến khi nào "tiếng khổ [của chúng sanh trong Pháp giới] còn không có huống là có khổ" [do thảy đều về Cực Lạc] thì mới viên mãn rốt ráo cái "bổn hoài" này.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 29. Nguyện Lực Hoằng Thâm
Ngài Hoàng Niệm Tổ
