Ai nấy hãy nên trọn hết chức phận của chính mình
Ngày hôm qua, thầy Diệu Chân giao cho tôi sáu đồng hương kính nói do ông gởi. Pháp danh của năm người xin quy y được viết trong một tờ giấy khác. Xin hãy nói với họ: Quy y Phật pháp thì chẳng thể lại quy y tà ma, ngoại đạo nữa! Ai nấy hãy nên trọn hết chức phận của chính mình, phải hiếu thuận với cha mẹ ruột và bố mẹ chồng, phải giúp chồng thành tựu đức hạnh, phải dạy dỗ con cái khiến chúng đều trở thành hiền nhân, thiện nhân. Phải ăn chay, phải niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chớ nên cầu sanh lên trời hay sanh vào nhà phú quý. Chớ nên niệm Huyết Bồn Kinh, phá huyết hồ, trả tiền thọ sanh, gởi kho. Đấy là những chuyện ngụy tạo. Chớ nên học theo ngoại đạo luyện đan, vận khí. Nếu vẫn chiếu theo kẻ vô tri vô thức để làm như thế thì sẽ chẳng vãng sanh Tây Phương được đâu! Bởi lẽ đã nhất tâm làm một con quỷ giàu có, hoặc muốn thành tiên, sanh lên trời, làm sao hưởng lợi ích vãng sanh Tây Phương lớn lao cho được? Xin hãy nói với bọn họ thì sẽ có lợi ích lớn lao.
“Giáo dục trong gia đình chính là căn bản để thiên hạ thái bình”
Sách Đồng Mông Tu Tri tôi chưa đọc qua, sợ rằng sẽ giống như Tiểu Nhi Ngữ, Tiểu Học Vận Ngữ có những lời lẽ báng Phật trong ấy nên tôi chẳng dám viết lời tựa. Nhưng bài nêu bày ý nghĩa ẩn kín “giáo dục trong gia đình chính là căn bản để thiên hạ thái bình” chắc cũng có thể giúp nêu rõ ý nghĩa của sách Đồng Mông Tu Tri. Xin hãy cẩn thận trình bày, giảo duyệt, cũng nên thêm dấu chấm câu. Trong gói sách đã gởi lần trước, tôi có viết bài “Nêu tỏ ý nghĩa ẩn kín của chữ Người”. Phía sau đính kèm đôi câu đối ghi trước bàn thờ Phật của Liên Trì đại sư. [Hai câu đối ấy] hay tuyệt, không chi hơn được nữa! Sao lại còn cậy tôi soạn câu đối làm gì? Tôi viết lại ở đây:
Chủ Cực Lạc lục bát đại nguyện chi từ tôn, tuyệt hạn lượng thọ mạng quang minh, bất ly đương xứ.
Quá Sa Bà vạn triệu Phật bang chi tịnh độ, diệu trang nghiêm lâu đài trì chiểu, nguyên thị ngô hương.
(Đức Từ Tôn chủ cõi Cực Lạc bốn mươi tám đại nguyện, thọ mạng, quang minh không hạn lượng, chẳng rời chỗ này.
Cõi Tịnh Độ vượt khỏi Sa Bà vạn triệu cõi nước Phật, lâu đài, ao chuôm đẹp trang nghiêm, đích thị quê ta).
Sợ thư [trước] bị thất lạc, nên chép thêm vào đây!

Nam Mô A Di Đà Phật
Đoạn đầu: Ai nấy hãy nên trọn hết chức phận của chính mình, phải hiếu thuận với cha mẹ ruột và bố mẹ chồng, phải giúp chồng thành tựu đức hạnh, phải dạy dỗ con cái khiến chúng đều trở thành hiền nhân, thiện nhân.
Tứ thân phụ mẫu, chúng ta đều phải hiếu dưỡng như nhau, đặc biệt là hàng nữ nhân, thường là sống cùng hay thân cận với bố mẹ chồng, thậm chí nhiều khi còn gần gủi hơn cả bố mẹ ruột, thế nên vai trò làm con cái trong gia đình chồng hết sức quan trọng và có quan hệ lớn lao đối với cuộc sống gia đình. Thật sự rằng gia đạo có hạnh phúc, bình an hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò chức tránh làm con [dâu], làm vợ này, liệu họ có làm tròn đầy, gánh vác được cái trọng trách này hay không, thật sự là một vai trò rất trọng yếu, đó là chiếc cầu kết nối giữa các thế hệ với nhau, từ trên là ông bà cha mẹ, đến vợ chồng, rồi dưới là nuôi dạy con cái, phải nói là một tay người nữ phải cáng đáng phần lớn cái công việc không hề nhẹ này. Còn người đàn ông đa phần phải lo kinh tế, giao tế bên ngoài, nhưng cũng phải ra sức làm cái gương [hiếu thảo] với cha mẹ, cùng vợ dạy dỗ con cái, chăm lo gia đạo, như thế thì người vợ mới 'phát tâm' mà tận tâm tận sức chăm lo cho bố mẹ chồng được, bởi người vợ thường là nhìn 'cái gương' xem ông chồng cư xử với chính bố mẹ anh ta ra sao mà 'học tập' theo, thực tế là vậy đó. Rằng nếu anh ta hết lòng hết dạ hiều dưỡng cha mẹ mình [và cả quan tâm chăm lo cho bố mẹ, gia đình bên vợ nữa] thì người vợ rất dễ được cảm hóa, cũng sẽ hết lòng chăm lo bố mẹ chồng, như bố mẹ ruột mình vậy, thậm chí còn gần gủi sâu sát hơn cả bố mẹ ruột. Chứ còn như ông chồng mà thờ ơ, chẳng tròn hiếu đạo với chính bố mẹ mình thì gần như chắc một điều là bà vợ cũng sẽ làm theo y hệt vậy, thậm chí còn tệ hơn, như thế sẽ làm cho gia đạo bất hòa, kém hạnh phúc, dễ lục đục, chỉ trừ một số ít trường hợp có được người vợ 'trên cả tuyệt vời' thì may ra sẽ khác. Cho nên nói 'gia hòa vạn sự hưng' đó, trong đó vai trò vợ chồng trẻ chính là những 'kép chính' vậy, để chèo lái con thuyền gia đạo luôn được an vui, thái bình, vượt qua nhiều khúc quanh co, sóng gió trong cuộc sống vậy.
Tiếp theo: Phải ăn chay, phải niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chớ nên cầu sanh lên trời hay sanh vào nhà phú quý.
Những trường hợp này có không, với người tu Tịnh Độ hiện nay? Dĩ nhiên là có, nhiều nữa là khác. Đó phần nhiều là các thành phần nào? Đó là dạng cũng có tu tập đó nhưng chưa thật sự rốt ráo cầu sanh về Cực Lạc, dạng này thường là dạng mới phát tâm, tu chưa được lâu, hay dạng còn trẻ khỏe, công danh sự nghiệp hãy còn phía trước, thế nên còn phải phấn đấu ở đời nhiều, nói chung là gia duyên thế sự còn hẫy hừng, cho nên dù có bắt gặp nhân duyên, rồi phát tâm tu tập nhưng vẫn là ở lưng chừng hay 'hai hàng', đối với dạng này thì cứ từ từ thôi, bởi cái gì cũng phải 'cứ từ từ' cái đã, đừng nên nóng vội với dạng này, cứ để cho họ 'cày bừa' chán chê cái cõi này đi đã, chứ chưa gì bắt họ 'buông xuống' tất cả, toàn tâm toàn ý vô việc tu đạo, như thế thì phải là những căn tánh đặc biệt, hay gánh vác những sứ mệnh gì đó thì may ra, chứ còn dạng phàm phu sanh tử thì không dễ đâu, mà như thế cũng chưa hẳn là tốt, là đúng lý đúng pháp, nếu không muốn nói là tu tập bị lệch lạc, không chân thật [tức giả tu] là đằng khác, vì sao? Tu tập là việc cả một đời người, nhiều khi nó dài dằng dặc hàng ba bốn chục năm, năm bảy chục năm chứ chẳng phải ít, thế nên ông bà ta nói "dục tốc bất đạt", cho nên đừng có ham cho nhanh cho lẹ. Còn như nói như nhỡ vô thường đến rồi sao [trở tay kịp]? Dạ vâng, nếu như vô thường, thọ mạng, hay nghiệp lực [bất khả tư nghì] nó đến thì cứ... mặc nó thôi, nhưng dạng này lại thường hay khó 'chết yểu' lắm, bởi thường dạng này họ có căn cơ, có thiện căn, tức xa xưa có tu phước huệ, nên mới phát tâm [khi còn trẻ] như vậy, cộng với họ có hiểu đạo lý nên thường phát tâm làm các công đức, việc thiện lành này kia, biết tránh các điều ác vâng làm các điều lành, có hành trì, rồi hồi hướng Tây Phương, hồi hướng cho gia đình, cho chúng sanh, nên nói chung là dạng này sống khá là an vui, tự tại, thọ mạng dài lâu, có Tam Bảo gia trì, có phước đức bảo hộ. Còn có một dạng hay dễ bị nghiệp lực 'dẫn dắt đi' [tức vô thường 'thăm viếng'], đó chính là dạng 'hứa tu', nhưng chưa chịu tu [phước, huệ] gì cả, tức là đã bắt gặp nhân duyên, cũng đã phát tâm muốn tu tập, nhưng cứ hẹn lần hẹn lữa, hết lần này đến lần khác, tức là nghĩ tu tập là phải buông bỏ tất cả [mọi thứ hiện tại] để chuyên tâm mà tu tập, như thế thì đâm ra khó khăn quá, hay cần phải có thời gian sắp xếp chuẩn bị này kia [trước khi buông xuống hết], cho nên khó cam lòng, nên cứ lần lữa mãi, dù tuổi tác cũng chẳng còn trẻ nữa, thật sự đây mới là dạng nguy hiểm, bởi với suy nghĩ như thế thì không biết đến bao giờ mới phát tâm được, bởi nghĩ rằng tu tập là một cái gì đó thay đổi thật lớn lao [về gia cảnh, hình tướng, sinh hoạt...]. Thay vì thế thì ta có thể phát tâm tu chân ngay cõi tục này đi, làm được cái gì làm ngay đi, dù nhỏ hay lớn, như thế có hay hơn không, bởi cái gì cũng phải từ từ, chẳng thể một bước lên mây được, tu hành cũng vậy, cũng phải có 'lộ trình', từ sơ phát tâm, thích làm việc thiện, tránh điều ác... rồi từ từ mới đi chuyên sâu vào Tịnh Độ, cùng với đó là phải chăm lo, trách nhiệm cho gia đình, người thân, với cộng đồng, xã hội. Rồi như bố mẹ có luống tuổi, già yếu thì phải tập trung lo cho bố mẹ tu tập rốt ráo để thành tựu trước đi cái đã, dành ưu tiên hết cho bố mẹ, tứ thân phụ mẫu trước, còn mình thì cứ từ từ sau cũng chẳng sao cả, đừng có lo sợ vô thường này kia, như nhỡ nó có đến thì 'nghênh tiếp' luôn [niệm Phật theo Phật về Tây], sợ gì chứ, cứ xả thân cho ông bà, cha mẹ, các bậc cao niên trước đi, như thế mới là đúng đạo lý [nghĩa là tu đúng]. Sở dĩ phải nói khá dài dòng chỗ này bởi tư tưởng các lớp trẻ ngày nay [trong tu tập] thường hay có cái kiểu như thế, cứ là chẳng chăm lo việc tu trì của bố mẹ ra sao, cứ là tối ngày xách giỏ đi suốt như thế, rằng để làm Phật sự hay cộng tu này kia, rồi để lo cho đồng tu, cho đại chúng, cho chúng sanh v.v... nhưng còn 'chúng sanh' quan trọng bậc nhất, đó chính là cha mẹ, người thân trong gia đình thì lại chẳng để tâm mấy, như vậy là sao đây, thế này là thế nào?
Phần tiếp theo chúng ta nói một chút ở hai câu đối mà các Ngài đề cập:
Chủ Cực Lạc lục bát đại nguyện chi từ tôn, tuyệt hạn lượng thọ mạng quang minh, bất ly đương xứ.
Quá Sa Bà vạn triệu Phật bang chi tịnh độ, diệu trang nghiêm lâu đài trì chiểu, nguyên thị ngô hương.
Thật sự đây là hai câu đối, đối vần, đối âm, rồi từ, ngữ, rất khắn khít, tròn trịa. Đó là về mặt câu chữ, còn ngữ nghĩa thì thật bình dị nhưng rất thâm sâu, ý nghĩa. Đầu tiên chỗ "bất ly đương xứ" [chẳng rời chỗ này], chỗ này là chỗ nào? Đó chính là ý nói Phật không rời cõi Cực Lạc, nhưng vẫn có thể độ thoát tất cả [chúng sanh trong Thập phương]. Cái này mới hay, chứ nếu Phật thị hiện ở một quốc độ nào đó, thì chỉ độ thoát, giác ngộ cho chúng sanh ở cõi đó mà thôi, còn muốn độ thoát tất cả chúng sanh trong khắp Pháp giới thì chắc chắn phải "bất ly đương xứ", chắc chắn phải vậy, rồi dùng cái Nguyện lực của mình [48 Đại Nguyện] mà phổ độ chúng sanh muôn nơi thôi. Bởi vậy nên các Ngài mới viết để nhắn nhủ, "bất ly đương xứ". Tiếp đến, câu sau, chỗ "nguyên thị ngô hương" [đích thị quê ta], đối cho chỗ "bất ly đương xứ" ở trên, rất trùng khớp, khăn khít. "Đích thị quê ta" là quê ai? Là quê chúng ta chăng? Chúng ta đã bao giờ về đó chưa mà gọi là 'quê'? Rằng quê hương phải là nơi chôn nhau cắt rốn, sinh ra lớn lên, hay chí ít phải gắn bó lâu dài ở đó, có nhiều thời gian, nhiều trải nghiệm ở đó, thì mới gọi là quê hương chứ? Còn đằng này chúng ta chưa từng một lần đặt chân đến đó bao giờ cơ mà? Hay là như có ý kiến cho rằng chúng ta đã từng ở đó [hay một cảnh giới 'Thường tịch' hay 'Nhất chân' nào đó] nhưng do một niệm sai lầm mà phải 'trôi dạt' mãi ra đây, trong luân hồi sanh tử này, rồi giờ đây chúng ta cần phải tu tập để trở lại 'quê hương' [cũ] của mình? Dạ, rằng thì là, muốn luận bất cứ vấn đề [hệ trọng] nào thì điều đầu tiên đó là gì? Dựa vào Kinh giáo, không thể khác được. Rằng trong Kinh Phật nói như thế nào? "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành", chúng ta để ý chữ "sẽ thành", tức là chúng sanh chưa bao giờ thành Phật cả, mà chỉ mang cái tự tánh [làm Phật, giống như Phật] trong mỗi vị trong đó mà thôi, bởi vậy nên chúng sanh đều có thể thành Phật trong tương lai là vậy, chứ một khi đã thành Phật [hay Bồ Tát bất thoái chuyển] thì làm sao có thể thoái chuyển, lui sụt cho được cơ chứ. Hay như nói 'Chúng sanh vốn dĩ là Phật', đây là lời Phật thuyết trong Kinh? Trong Kinh Phật có thuyết như vậy không? Dạ trong Kinh Phật chỉ thuyết rằng "Nhất thiết chúng sanh, giai hữu Phật tính" [Tất cả chúng sanh đều có Phật tính], chứ làm gì có 'vốn dĩ là Phật' [tức 'đã từng vốn là Phật']. Rằng đã 'vốn từng là Phật' mà giờ còn ngồi đây, còn trôi lăn trong lục đạo luân hồi này? Thật sự rằng nói vậy mà cũng nói được [rồi cho rằng đó là Phật thuyết trong Kinh], rồi thì bao nhiêu hàng hậu học thi nhau trích lục đưa [câu nói ấy] lên hàng tựa, tít, hàng 'kinh điển', 'bất hủ'. Thật sự, chịu thua, thua trắng, khóc ròng thật sự, không dám nói gì nữa rồi. Rồi từ một ý niệm sai lầm mà biến hiện ra mười phương Pháp giới? Đã bất thoái chuyển thì đã không còn sanh tử, không còn luân hồi, huống hồ là Phật, Bồ tát, mà còn trôi lăn [trở lại] trong sanh tử [ở đây không nói việc phát tâm vào trong sanh tử để độ sanh]? Thật sự rằng đừng có bị 'ám ảnh' quá mức cái 'tự tánh làm Phật' trong mỗi chúng sanh, rằng đây đơn giản chỉ là một cái 'thể tánh' chung của chúng sanh mà thôi, tức không có chúng sanh nào không có cái 'thể' này cả, đơn giản chỉ có vậy. Nói cách khác tức hễ nói tới chúng sanh là có cái 'thể tánh' này. Bởi nếu không có cái 'thể tánh chung' đó thì Chư Phật ba đời làm sao tu thành Phật cho được, hay làm sao Phật có thể nói "chúng sanh là Phật sẽ thành" cho được! Rằng phải 'có bột mới gột nên hồ' chứ. Còn mỗi một vị chúng sanh mang một hình hài, hay cảnh giới này kia khác nhau, đó là do nghiệp lực từ vô thỉ kiếp của họ mà sanh ra vậy thôi, chứ chẳng phải trước kia họ đã từng 'làm Phật' nhưng do một ý niệm sai lầm mà dần dần sinh sôi nảy nở ra, rồi đẩy họ rời xa đến những cảnh giới [khổ đau] như thế này! Dạ không phải như vậy đâu ạ, Kinh Phật tuyệt đối không có nói như vậy đâu.
Trở lại vấn đề bên trên, vậy tại sao các Ngài hay nhắc tới 'cố hương', 'quê hương' này kia vậy? Đó là thứ nhất, các Ngài ấy vốn là hàng Bồ Tát tái lai xuống đây để độ sanh, nên với các Ngài thì đó chính xác là 'cố hương' rồi còn gì? Nhưng đây mới là cái quan trọng chúng ta muốn nói đến, rằng các Ngài muốn nhắn như thế ý là tất cả chúng ta đây hãy chọn đó làm 'quê hương' của mình đi, đừng có chọn đâu khác nữa [như Ta Bà, hay Tam đồ, khổ lắm...], rằng không có nơi đâu [để chọn làm quê hương] thù thắng như cõi Cực Lạc ấy cả, rằng hãy cố gắng tu tập để được về cõi ấy, rồi một khi đã là 'công dân' cõi ấy rồi thì đương nhiên đó chính là quê nhà mình vậy, không thể khác được, và cũng không gì thù thắng hơn, đó chính là ước nguyện chung của tất cả Chư Phật, Chư Bồ Tát [tái lai độ sanh] nói chung vậy. Rồi một khi đã có cái 'quê hương đích thị' như vậy rồi thì tha hồ mà đi muôn nơi [cúng dường, độ sanh], muốn đi đâu thì đi, kiểu gì cũng được cả. Như vậy nghĩa rằng "nguyên thị ngô hương" ["đích thị quê ta"], thực sự đó chính là "quê ta" đang đợi chúng ta về đó vậy. Thật sự ý nghĩa thi vị biết bao!
Văn Sao Tam Biên, quyển 3
Thư trả lời cư sĩ Viên Đức Thường
Đại Sư Ấn Quang
