Vừa nghe pháp môn Tịnh Độ bèn có thể sốt sắng tu trì
Doãn Vương Thị trọn chẳng ăn chay niệm Phật, vừa nghe pháp môn Tịnh Độ bèn có thể sốt sắng tu trì, lại còn biến điền trang của chính mình thành Từ Vân Liên Xã để mong những phụ nữ có chí tu trì đều cùng được nương tựa tu trì nơi đấy, quả thật là khó có! Nếu chẳng phải do đời trước đã có thiện căn, làm sao được như thế? Thật có thể gọi là “chín phẩm hoa sen” vậy!
Sợ rằng bà ta chưa nghe thông suốt pháp môn Tịnh Độ, nên đương nhiên phải làm cho bà ta sanh lòng tin chân thật, phát tâm nguyện thiết tha, quyết định cầu mong lúc lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Đừng xen tạp công phu luyện đan vận khí của ngoại đạo để cầu trường sanh và đừng mong được thành thần tiên nơi cõi trời Đại La v.v... thì sẽ chẳng uổng cuộc sống này, chẳng phí dịp gặp gỡ này.
Nếu chẳng thể trọn hết bổn phận của chính mình, dẫu có tu trì cũng khó tương ứng với Phật
Nay đặt pháp danh cho bà ta Huệ Đạo, nghĩa là dùng trí huệ để dẫn dắt những người cùng hàng cùng sanh Tây Phương. Lại phải khuyên người niệm Phật ai nấy trọn hết bổn phận của chính mình, như cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành, giữ tấm lòng tốt, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt, đừng làm các việc ác, vâng làm các việc lành. Dùng những điều ấy để tự hành, lại còn dùng những điều ấy để dạy người khác thì kẻ vô tri chẳng dám sanh hủy báng xằng bậy. Nếu chẳng thể trọn hết bổn phận của chính mình, dẫu có tu trì cũng khó tương ứng với Phật, lại còn gợi cho kẻ vô tri lầm lạc bảo: “Phật pháp vô ích cho luân thường, thế đạo”.
Có thể “hiếu, đễ, từ” thì...
Xem khắp xưa nay, những vị đại trung, đại hiếu, lòng nhân sâu xa, phẩm đức sâu dầy, đa phần đều do học Phật đắc lực mà ra. Do vậy, trong ba thứ chánh nhân Tịnh nghiệp của Quán Kinh, điều thứ nhất là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng (sư trưởng chính là người có đức), từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp. Có thể “hiếu, đễ, từ” thì có thể khiến cho ba nghiệp nơi thân (ba nghiệp nơi thân là giết, trộm, dâm), bốn nghiệp nơi miệng (bốn nghiệp nơi miệng là nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, ác khẩu), ba nghiệp nơi ý (ba nghiệp nơi ý là tham - sân - si) thảy đều lành. Người như thế chính là vật báu cho quốc gia xã hội, sẽ khiến cho kẻ thấy người nghe nhìn theo bắt chước làm lành. Đấy gọi là: “Dùng lời nói để dạy sẽ bị tranh cãi, dùng thân để dạy, người khác sẽ thuận theo”.
Hễ lập được cái gốc thì đạo sẽ sanh
Mọi chuyện trong thế gian đều phải lấy thân làm gốc. Huống chi hiện thời tà thuyết dị kiến không thứ lạ lùng nào chẳng có. Chúng ta học Phật nếu chẳng nghiêm túc suy xét từ luân thường, từ khởi tâm động niệm thì công phu của chính mình cũng khó được lợi ích. Người khác thấy nghe chắc sẽ thốt lời xầm xì, do vậy cần phải xét bàn từ luân thường, suy xét từ nơi khởi tâm động niệm, hễ lập được cái gốc thì đạo sẽ sanh. Người đời thấy nghe sẽ học theo mà không hay không biết. Ví như gió lùa cỏ rạp, nước chảy thành khe. Những điều cần phải nói khác đã có đầy đủ trong lá thư gởi cho ông Mã Tuấn Khanh [trong bộ Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên], đều nên đem những điều ấy nói với bà ta.
Giới thiệu người khác quy y quả thật là chuyện tốt đẹp nhất; nhưng nếu là kẻ không có lòng chánh tín, đừng nên giới thiệu tràn lan. Sợ rằng mai sau kẻ ấy sẽ lui sụt tạo nghiệp, đâm ra chẳng tốt đẹp gì! Nhân tâm khác biệt như thế đó! Nếu gặp kẻ có túc căn, cố nhiên hãy nên hướng dẫn, còn kẻ không có thiện tâm thì chớ nên dẫn dắt bừa bãi vì sợ đâm ra họ sẽ làm cho pháp môn bị nhục lây!

Nam Mô A Di Đà Phật
Đoạn đầu: Doãn Vương Thị trọn chẳng ăn chay niệm Phật, vừa nghe pháp môn Tịnh Độ bèn có thể sốt sắng tu trì, lại còn biến điền trang của chính mình thành Từ Vân Liên Xã để mong những phụ nữ có chí tu trì đều cùng được nương tựa tu trì nơi đấy, quả thật là khó có!
Nếu ai vừa nghe Tịnh Độ đã sốt sắn tin theo hành theo thì đúng là dạng hiếm có khó tìm, nhưng cái quan trọng hơn đó là quyết chí thâm nhập rồi ngày càng tấn tới trên con đường đạo, đây mới là điều quan trọng, chứ còn chỉ được thời gian rồi lại 'đâu vào đó', để 'từ từ' cái đã, bởi còn nhiều việc phải giải quyết nữa, chưa thể tu tập lúc này được, dạng này thì nhiều. Tuy nhiên chúng ta không nên thất vọng với họ, bởi đó suy cho cùng cũng là lẽ thường tình của thế gian thôi, bởi một 'lời hứa' như thế cũng là quý rồi, chứng tỏ rằng họ cũng có cái tâm hướng đạo, chúng ta cứ kiên trì ắt họ sẽ dần gia nhập đạo thôi. Còn một dạng nữa, đó là dạng vừa nghe cái đã lắc đầu nguầy nguậy, hay giai đoạn đầu cứ ra sức phản bác lại, dạng này cũng chưa hẳn là thiếu thiện căn đâu, chỉ là do nghiệp chướng họ khá sâu dày nên làm chướng ngại con đường đạo thôi, nhưng ít ra họ cũng có nhân duyên [dù là nghịch duyên ban đầu], bởi rất nhiều trường hợp rằng ban đầu càng ra sức phản đối chống trái lại thì sau khi đã ngộ đã 'vỡ' ra được thì lại càng tinh tấn, kiền thành không ai bì kịp, hay càng dũng mãnh phát tâm 'tự lợi lợi tha', ra sức khuyến hóa khắp mọi người, lấy cái gương của chính mình để đi khuyến hóa người khác, cùng tin theo cùng hành trì cùng được lợi ích chân thật. Dạng này nhiều chứ không phải ít. Cho nên chúng ta cần phải kiên trì [cho tất cả], đừng nên thất vọng hay xem thường họ, nhất là người thân quyến trong gia đình, cần phải kiên trì và 'chờ đợi' [hội đủ nhân duyên].
Tiếp theo: Sợ rằng bà ta chưa nghe thông suốt pháp môn Tịnh Độ, nên đương nhiên phải làm cho bà ta sanh lòng tin chân thật, phát tâm nguyện thiết tha, quyết định cầu mong lúc lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.
Những cái này chúng ta đã được đọc đi đọc lại, 'thuộc làu làu' rồi, chẳng có gì mới, thế nhưng vẫn có cái để nói, bởi cứ nói mãi như thế. "Sanh lòng tin chân thật, phát tâm nguyện thiết tha", và dĩ nhiên là ra sức hành trì chân thật, rồi lúc cuối sao? Dạ lúc cuối chỉ mong [hơn nữa là phải tin] "được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương", chứ chẳng phải lúc cuối mong trước những cái như 'đầu óc tỉnh táo', 'tâm không hôn mê', rồi 'chánh niệm rõ ràng', hay 'một niệm mười niệm cuối cùng phải là A Di Đà Phật'... [rồi mới mong Phật đến tiếp dẫn], dạ hoàn toàn không cần mong cầu những cái đó đâu ạ, hoàn toàn không cần. Vì sao? Bởi nếu có tâm mong cầu những cái này đó là đang 'lạc bước' vào Pháp Biên Địa rồi, chắc chắn là vậy, mà một khi như thế thì đến lúc cuối không có chuyện tự tại vãng sanh theo Phật về Tây được đâu nhé, bởi với cái Pháp này [Biên Địa] mà muốn được Phật đến rước lúc cuối thì phải chí thành mà niệm cầu sanh về thì may ra mới cảm được Phật đến rước, cái này hoàn toàn khác với cái Pháp "sanh lòng tin chân thật [tức chẳng nghi], nguyện thiết tha", niệm Phật cầu sanh về. Bởi vậy, chỉ cần sai một ly [về tâm tưởng, nhận thức] là đi một dặm ngay, khác biệt về đường lối, bản chất của cái Pháp. Cho nên nhiều người không rõ chỗ này, cứ nghĩ phải 'cầu mong' như thế mới là an toàn, mới là thêm chắc phần được vãng sanh, dạ không có đâu, càng cầu mong như thế là [tâm] càng không theo đúng với Chánh Pháp [Tông chỉ], càng nghiêng hẳn sang cái Pháp cứu vớt Biên Địa mà thôi. Thật sự rằng, hiện tại đây rất nhiều Đạo tràng lớn cứ là 'ra rả' cuối buổi cộng tu là đồng thanh cầu nguyện như thế. Dạ xin nhắc lại rằng, cầu nguyện như thế là không đúng Chánh Pháp, tức không đúng lời Phật thuyết trong Kinh giáo đâu ạ. Vì sao Phật không thuyết những dạng như thế trong Kinh? Bởi đơn giản đó là việc của Phật làm [cho nên đương nhiên, chắc chắn là được như vậy], cho nên chúng ta còn khẩn thiết mong cầu những điều ấy làm gì nữa? Bởi tâm càng khẩn thiết như thế hóa ra là chúng ta càng chẳng tin lời Phật thuyết Phật tuyên chăng [tức tin Bổn Nguyện]? Rõ ràng là thế chứ còn gì nữa! Rằng việc của Phật [gia hựu, che chở, sắp đặt, đến tiếp dẫn...] thì cứ để Phật lo liệu, chúng ta cứ thích can dự vào làm gì, đây rõ ràng là chúng ta không tin lời Phật rồi, như thế có phải là đang cố tình 'chen' cái tư tưởng tự lực vào trong đó không? Bởi vậy ai còn mang nặng tư tưởng các Pháp tự lực [khi luận về Tông chỉ của Pháp môn] thì kiểu gì cũng kiến giải như thế cả. Chúng ta cần phải nhớ rằng, đây là cái Pháp "đặc biệt", khác hẳn với tất cả các Pháp còn lại, trong một đời giáo hóa của Đức Phật, chúng ta đừng quên chữ "đặc biệt", duy nhất này.
Đoạn tiếp: Lại phải khuyên người niệm Phật ai nấy trọn hết bổn phận của chính mình, như cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành, giữ tấm lòng tốt, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt, đừng làm các việc ác, vâng làm các việc lành.
Nói chung con người ta còn sống trong cõi Dục này, nên dù ít nhiều đều bị chi phối bởi cái 'Dục' này [Ngũ dục], bởi vậy muốn khuyến hóa được họ thì trước hết phải lấy cái 'dục' để làm phương tiện dẫn dắt họ vào đạo, đa phần là như vậy, chỉ số ít căn tánh sâu dày thì không cần thế. Cho nên mới nói phải sống sao cho 'tốt đời đẹp đạo' là vậy, tức là cả đời và đạo đều cùng tốt đẹp, cùng được duy trì, tương hỗ nương tựa lẫn nhau, như thế mới bền lâu được. Dĩ nhiên là một khi hiểu đạo rồi phải sống 'biết đủ', thiểu dục tri túc thôi, chứ không phải cứ cố chạy theo tiền tài danh lợi như một bộ phận của thế gian, mà tất cả chỉ dừng lại ở mức 'phương tiện', chứ không phải dạng 'mục tiêu' quyết tâm theo đuổi đến cùng như thế gian, mà cái 'mục tiêu' thật sự chúng ta đã có một thứ khác để theo đuổi rồi, đó là một đời này được sanh về Cực Lạc, liễu thoát sanh tử, chứng Bất Thoái. Tiếp tục nói thêm về cái "trọn hết bổn phận" này, như thế một khi giúp họ thấy được lợi ích [trước mắt] trong việc tu tập hành đạo rồi, thì một lời nói thôi cũng có 'trọng lượng' hơn hẳn, bởi chính họ đã thấy và nghe nên dễ tin theo hành theo, đó chính là dùng 'phương tiện thiện xảo' để tự lợi lợi tha, tự hành khuyên người vậy, giúp dẫn nhập họ từ từ đi vào con đường đạo cầu giải thoát [tức cái lợi ích chân thật, thật sự]. Được như thế thì việc tự độ độ tha sẽ dễ dàng hơn nhiều, đến cả oan gia hay chướng duyên nghịch duyên gì [trong gia đình] cũng dần được cảm hóa cả, dần trở thành đồng tu đạo hữu của nhau vậy. Chứ không phải cứ nói đến oan gia, đối đầu gì đó cái là sợ, phải cách ly, chia rẽ ra ngay đâu, dạ không phải vậy, nhất là một khi đã có nhân duyên về chung một nhà [thành vợ chồng, mẹ con...] thì không hề đơn giản, phải có trách nhiệm, bổn phận, theo đúng tinh thần giáo lý nhà Phật dạy. Hơn nữa, cái "trọn hết bổn phận" này không phải chỉ ý nghĩa về mặt 'lợi tha' không thôi, mà đó chính là phát Bồ Đề tâm [trong thế gian pháp, tức tiểu Bồ Đề tâm], tránh đi tính vị kỷ, hẹp hòi, chỉ nghĩ đến bản thân, không chịu chung tay gánh vác những khó nhọc cùng người, tu như thế là trái nghịch với tâm đạo, tâm Phật, như thế là không đúng, sẽ rất bị chướng ngại, và khó bề bền vững nếu không chịu sửa đổi, bởi gốc rễ nền móng không được xây dựng vững chắc, nên dễ bị 'đứt gánh' giữa đường, khó theo đuổi đến cùng được, chứ chưa nói đến thành tựu hay không. Dĩ nhiên đây là đang nói cho hạng còn trẻ khỏe, còn bổn phận phải gánh vác này kia, còn như dạng các cụ già, bậc cao niên, lớn tuổi, hay những người đã xong trách nhiệm với gia đình, thân quyến thì sẽ chỉ chuyên tâm dốc lòng hành đạo, để một đời này được vãng sanh, giải thoát, như thế là đã trọn vẹn bổn phận với cả thế gian lẫn xuất thế vậy, rồi để lại biểu pháp, tấm gương tu trì cho con cháu, gia quyến người thân, hữu tình noi theo tu học. Cho nên chữ "trọn hết bổn phận" này không đơn thuần chỉ là những việc trong thế gian pháp, mà cả trong việc tu đạo cầu giải thoát, tất cả đều phải trọn vẹn viên mãn, tùy theo giai đoạn, chức phận mỗi người.
Các đoạn còn lại chúng ta cùng đọc và học tập.
Văn Sao Tam Biên
Thư trả lời cư sĩ Châu Thạch Tăng
Đại Sư Ấn Quang
