Pháp môn Niệm Phật giống như Như Ý bảo châu, có thể tùy ý con người mà mưa hết thảy báu. Chỉ cần khẩn thiết chí thành niệm Phật, sẽ tự nhiên tội nghiệp tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, siêu độ tiên vong (người đời trước đã khuất bóng) đều được vãng sanh Tây Phương, sao chẳng thể nói là “nương theo Phật từ lực để vãng sanh Tây Phương”?
Mỗi ngày sáng tối vẫn cần phải đem công đức tu trì của chính mình hồi hướng
Con lại hỏi nên tu như thế nào sẽ có thể làm cho cha mẹ được vãng sanh Tây Phương? Con hỏi như vậy chính là không hiểu lý quá sức! Người niệm Phật mỗi ngày sáng tối vẫn cần phải đem công đức tu trì của chính mình hồi hướng cho Tứ Ân Tam Hữu và hết thảy chúng sanh trong pháp giới, huống hồ chẳng thể làm cho phụ mẫu vãng sanh Tây Phương ư? Chỉ cần cung kính, chí thành đến cùng cực, lại còn phải phát tâm độ khắp hết thảy chúng sanh. Phàm với hết thảy những kẻ hữu duyên đều đem pháp này khuyên nhủ, đem công đức tu trì của chính mình, công đức hồi hướng cho hết thảy chúng sanh và công đức khuyên người khác để hồi hướng cho cha mẹ, chắc chắn sẽ có thể làm cho cha mẹ được vãng sanh. Nhưng cần phải chân thật, tận lực thực hiện thì mới được. Nếu hời hợt, ơ hờ, tuy chẳng phải là không có lợi ích, nhưng sợ rằng chưa chắc sẽ được vãng sanh.
Niệm Phật phải có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, phải cung kính, chí thành, phải lắng tai nghe kỹ, phải phát tâm phổ độ chúng sanh. Phải kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, luôn thường tự phản tỉnh. Hễ có tâm bất thiện dấy lên bèn lập tức tiêu diệt. Phàm có thiện tâm đều nên khiến cho nó được mở rộng ra. Dẫu sức chẳng làm được, tâm ấy quyết chẳng thể không sanh! Nói chung, lúc thường ngày phải giữ tấm lòng tốt, nói lời tốt lành, làm việc tốt lành để làm pháp trị thân trị tâm. Niệm Phật như thế sẽ đáng là đệ tử thật sự của đức Phật, chắc chắn có thể ở trong thế giới này phổ độ những người cùng hàng thoát lìa sanh tử. Vì sao vậy? Do có thể thật hành, người ta sẽ dễ bị cảm hóa. Nếu không, sẽ là kẻ giả thiện, tâm hạnh giả dối, sẽ chẳng thể được lợi ích thật sự.
Hết thảy chúng sanh do dâm dục mà sanh. Con phát tâm giữ lòng Trinh tu hành, phải nỗ lực. Nếu có những thứ tình niệm ấy khởi lên, hãy nghĩ đến núi đao, rừng kiếm, vạc dầu, lò than, đủ mọi nỗi khổ trong địa ngục, tự nhiên bao nhiêu ý niệm đã dấy lên sẽ lập tức bị tiêu diệt. Thường thấy bao nhiêu thiện nữ thoạt đầu phát tâm giữ lòng trong trắng chẳng xuất giá, sau đấy do tình niệm phát khởi, chẳng thể kìm mình được, liền cùng kẻ khác làm chuyện cẩu thả. Nhưng hễ đã không gìn giữ một lần, sẽ như nước xoáy thủng đê, từ đấy chảy tràn lan, vĩnh viễn chẳng thể quay về chánh đạo được, thật đáng đau tiếc! Hãy nên tự châm chước, có thể giữ được thì giữ chắc đến tột cùng. Nếu không, xuất giá theo chồng chính là cương thường do thiên địa thánh nhân và con người đã lập ra, cố nhiên chẳng phải là không nên.
Con người biết lý, biết luân thường...
Giữ lòng Trinh mà giữ được tốt đẹp thì tốt hơn đi lấy chồng, nào phải chỉ tốt đẹp hơn trăm ngàn vạn lần! Không giữ được lòng Trinh vẹn toàn thì lại còn thua lấy chồng cả trăm ngàn vạn lần, bởi lẽ nam nữ lập gia đình chính là giềng mối của con người trong trời đất, nam nữ chung chạ bừa bãi chính là hành vi của súc sanh! Súc sanh chẳng biết lý, chẳng biết luân thường. Con người biết lý, biết luân thường, mà vẫn muốn làm chuyện chung chạ bừa bãi, quả thật chẳng bằng súc sanh! Cậu của con đã thờ ta làm thầy, nói con có thiện căn muốn giữ lòng Trinh, ta không phá cái tâm giữ lòng Trinh của con, chỉ sợ con có đầu không đuôi, đâm ra mắc tội với trời đất, cha mẹ, Phật, Bồ Tát. Vì thế, ta khôn ngăn dài dòng một phen.
Đức Phật lấy từ bi làm gốc
Lại nữa, sao con không phát tâm ăn chay? Con thử nghĩ xem: Thịt trên thân con mà cắt ăn thì có ăn được hay chăng? Thịt của chính mình chẳng thể ăn được, sao hằng ngày lại giết [loài vật] để ăn? Hết thảy sanh linh chẳng phải do con giết, nhưng con dùng tiền để sai người khác giết; sát nghiệp vẫn giống hệt! Huống chi con muốn sanh về Tây Phương, đức Phật lấy từ bi làm gốc. Con đã ăn thịt tức là không có tâm từ bi! Vì con là người chân thật tu hành nên ta mới nói lời này. Nếu là kẻ hờ hững, hời hợt, tuy chẳng ăn chay vẫn có thể niệm Phật, chứ không phải là kẻ ăn mặn chẳng được niệm Phật. Chẳng thể không biết [điều này]. Những điều khác không cần giảng giải, con chỉ đọc kỹ Văn Sao thì mọi mối nghi đều tháo gỡ.
Nhưng muốn được lợi ích thật sự thì...
Quang bận việc đến cùng cực, chớ nên thường gởi thư đến. Dẫu có nói gì đi nữa, cũng chẳng ngoài những ý đã nói trong Văn Sao. Phật pháp quảng đại, dẫu Đăng Địa Bồ Tát cũng chẳng thể biết hết được! Nhưng muốn được lợi ích thật sự thì chỉ có một câu “Nam-mô A Di Đà Phật” này là có thể thoát khỏi sanh tử, chứng Niết Bàn, viên thành Phật đạo. Chúng ta là phàm phu hạ căn, chẳng làm theo pháp môn cực đơn giản thì chỉ có thể trở thành gieo thiện căn mà thôi; muốn liễu sanh tử ngay trong đời này, có mộng cũng mơ chẳng được! Con có thể y theo lời ta nói thì đáng gọi là Liên Anh. Nếu không, tuy mang tên Liên Anh, chỉ sợ thành rừng tội mà thôi! (Ngày Mười Bảy tháng Tư)

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà bằng composite
Đoạn đầu: Pháp môn Niệm Phật giống như Như Ý bảo châu, có thể tùy ý con người mà mưa hết thảy báu.
"Pháp môn Niệm Phật giống như Như Ý bảo châu", tức không phải là 'muốn gì được nấy' mà là tùy cái cách hành giả tu tập thực hành mà được thọ dụng khác nhau, từ những lợi ích thế gian cho đến xuất thế, cho đến đạo vô thượng đều gồm trọn vẹn đầy đủ cả, chẳng thiếu sót chẳng ngằn mé gì. Chứ chẳng phải ai niệm Phật đều giống như cầm 'cây gậy Như Ý' rồi muốn hô mưa gọi gió muốn làm gì thì làm, dạ hoàn toàn chẳng phải như vậy đâu. Rất nhiều người tu Tịnh Độ cứ thấy tán thán câu Phật hiệu đến cùng tột rồi nghĩ mình niệm Phật đây có thể làm bất cứ thứ gì mình muốn hay muốn gì được nấy, đó chỉ là vọng tưởng thôi, rồi khi mong cầu chẳng được thì lại đâm ra mất niềm tin với câu Phật hiệu, với Pháp môn. Thật sự rằng với câu Phật hiệu này, với Pháp môn này, chỉ thật sự là viên mãn khi được thành tựu vãng sanh Tây Phương để thành tựu vô thượng đạo mà thôi. Còn việc thành tựu, được mất trong thế gian này kia đều do nhân quả quyết định, gieo nhân gì gặt quả nấy thôi. Chứ chẳng phải niệm Phật rồi muốn gì có nấy đâu. Cho nên cứ nghe nói 'Niệm Phật một câu phước sanh vô lượng, Lễ Phật một lễ tội diệt hà sa' rồi nghĩ rằng mình hằng ngày đây niệm Phật quá trời nên chắc là phước báu công đức nhiều dữ lắm đây, rồi cho rằng chẳng qua tôi không muốn 'sài' chứ tôi mà 'sài' thì muốn gì có nấy đấy! Dạ chẳng phải như vậy đâu ạ, niệm Phật công đức phước báu lớn thật đấy, nhưng nó chỉ thành 'vô thượng' khi hành giả được về Tây Phương thì cái công đức phước báu ấy mới phát huy diệu dụng, trở thành vô lượng công đức, tức sài hoài sài mãi vẫn không hết, sài cho đến thành vô thượng Đạo chứng Phật quả luôn vậy. Còn một khi niệm Phật mà vẫn lưu lại ở Ta Bà đây thì chỉ gieo nhân cho đời sau mà thôi, hoặc giả muốn 'đổi' thành phước báu thế gian thì cũng chỉ là dạng hữu lậu. Chúng ta đọc kỹ các Đại Nguyện khác [không phải Đại Nguyện tiếp dẫn] như: "Trời người lễ kính", "Tu thù thắng hạnh"... sẽ rõ về điều này.
Tiếp theo: Chỉ cần khẩn thiết chí thành niệm Phật, sẽ tự nhiên tội nghiệp tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, siêu độ tiên vong (người đời trước đã khuất bóng) đều được vãng sanh Tây Phương.
Nói chung là phàm làm bất cứ thứ gì chứ không riêng gì niệm Phật, đều cần phải có lòng thành, thành đến cùng cực sẽ phát huy diệu dụng đến cùng cực. Dĩ nhiên là dạng phàm nhân như chúng ta thì không phải lúc nào cũng có thể chân thành đến cùng cực được đâu, mà sẽ có lúc này lúc khác, lòng thành sẽ có lúc mạnh lúc yếu, đó là điều bình thường, cho nên không cần phải đặt kỳ vọng quá cao để rồi lại thất vọng [chẳng thực hiện được]. Cho nên trong tu học, chúng ta không phải lúc nào cũng 'khẩn thiết, chí thành' suốt được đâu, mà sẽ có lúc này lúc kia. Chứ chẳng phải nghe các Ngài nói như 'Khẩn thiết chí thành là chìa khóa của việc tu đạo' rồi ra sức làm theo, rồi chỉ một thời gian ngắn sau lại bỏ dỡ, rồi đâm ra lơ là luôn cái Pháp đó, chẳng muốn thực hiện nữa. Mà ở đây phải hiểu và hành thế nào? Nếu tu hành dạng 'đường trường' thì khẩn thiết chí thành đó chính là giữ sự tinh tấn, ổn định, chân thật, nghiêm túc trong suốt quãng đời tu học, đó chính là sự khẩn thiết chí thành vậy. Còn dạng các trường hợp tu 'quãng ngắn', hay lúc sắp ra đi, hay đặc biệt lúc lâm chung thì cần sự chí thành đến cùng cực vậy mới phát huy diệu dụng của cái Pháp này được, dĩ nhiên đây là nói cho Pháp Biên Địa, tức người chưa đầy đủ Tín Nguyện tâm chân thật.
Đoạn tiếp: Người niệm Phật mỗi ngày sáng tối vẫn cần phải đem công đức tu trì của chính mình hồi hướng cho Tứ Ân Tam Hữu và hết thảy chúng sanh trong pháp giới, huống hồ chẳng thể làm cho phụ mẫu vãng sanh Tây Phương ư? Chỉ cần cung kính, chí thành đến cùng cực, lại còn phải phát tâm độ khắp hết thảy chúng sanh.
Tứ Trọng Ân đó là: Ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân Quốc vương [ân đất nước] và ân Tam Bảo. Chúng ta tu học phải luôn biết cảm ân và đền đáp ân đức cho các Ân này, hàng ngày đều phải hồi hướng công đức tu trì của mình cho cha mẹ [dù còn sống hay đã mất, cùng tất cả Tổ tiên ông bà, hữu tình gần xa, oán thân trái chủ...], rồi hồi hướng 'Trang nghiêm Phật Tịnh Độ...', hồi hướng Khắp Pháp Giới Chúng sanh, nguyện tất cả đồng sanh Cực Lạc, đồng kiến Di Đà, đồng ngộ vô sanh, đồng thành Phật đạo.
Tiếp theo: Chỉ cần cung kính, chí thành đến cùng cực, lại còn phải phát tâm độ khắp hết thảy chúng sanh. Phàm với hết thảy những kẻ hữu duyên đều đem pháp này khuyên nhủ, đem công đức tu trì của chính mình, công đức hồi hướng cho hết thảy chúng sanh và công đức khuyên người khác để hồi hướng cho cha mẹ, chắc chắn sẽ có thể làm cho cha mẹ được vãng sanh. Nhưng cần phải chân thật, tận lực thực hiện thì mới được.
Việc hồi hướng công đức tu trì của chính mình để giúp Tổ tiên ông bà, cha mẹ [đã quá vãng] được vãng sanh thì cái này không phải ai cũng làm được, với tùy theo thiện căn phước đức của họ nữa, chứ không phải chỉ mình không. Cho nên nhiều khi cha mẹ, ông bà của mình thì đúng là hữu duyên với mình thật rồi đấy nhưng dạng "nếu xa xưa không tu phước huệ..." thì thôi, chịu thua, đời này mình có cố gắng lắm thì cũng chỉ giúp gieo trồng thiện căn cho họ để giúp họ thành tựu trong một đời kiếp nào đó mà thôi. Bởi vậy nên nói việc tu hành không thể ai tu thay ai là vậy. Chẳng hạn dạng thiện căn phước đức gần tròn đầy thì chúng ta có thể hồi hướng, trợ duyên trợ lực giúp cho họ thành tựu thì có thể được, chứ còn dạng quá 'cạn mỏng' thì thôi, chỉ là gieo thiện căn, chưa thể thành tựu giải thoát ngay được đâu.
Đoạn tiếp: Niệm Phật phải có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, phải cung kính, chí thành, phải lắng tai nghe kỹ, phải phát tâm phổ độ chúng sanh. Phải kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, luôn thường tự phản tỉnh...
Trong các điều 'phải làm' này thì cái đầu tiên [tin chân thật, nguyện thiết tha] là quan trọng nhất, là Tông chỉ của Pháp môn, là chánh hạnh, chánh nhân để vãng sanh, tức là yếu tố quyết định sự thành tựu, còn những cái phía sau là trợ hạnh trợ duyên cho cái đầu này, tuy chúng không phải là yếu tố quyết định sự thành bại nhưng sẽ góp phần không nhỏ tạo nên [yếu tố quyết định] sự thành bại kia vậy. Cho nên chúng cũng không kém phần quan trọng. Chẳng hạn, việc "đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành", chúng ta phải nổ lực thực hành điều này xuyên suốt trong quãng đời tu học, không được lơ là, bởi đây chính là nền tảng, gốc rễ cho việc tu đạo nói chung, chứ không riêng gì Tịnh Độ. Bởi vậy nói Pháp môn Tịnh Độ là Pháp 'nương Phật lực để vãng sanh', mà để có được điều này thì chí ít chúng ta phải có tâm tương ưng với tâm Phật, mà tâm Phật thì sao? Phổ độ khắp chúng sanh. Cho nên tâm ta cũng phải vì lợi ích chúng sanh, phát tâm thành vô thượng đạo để phổ độ khắp chúng sanh, như thế tâm tâm mới tương ưng nhau, gọi là mới cùng đi chung một con đường, cùng nhìn về một hướng, ít nhất bước đầu phải là vậy, sau mới đến gầy dựng Tín nguyện tâm chân thật đầy đủ, niệm Phật cầu sanh. Như thế mới hòng 'nương Phật từ lực' vãng sanh Tây Phương được. Còn như niệm Phật mà cái tâm vẫn 'trơ như sỏi đá', chẳng có từ tâm thì thôi, làm sao đạt Tín nguyện tâm cho tròn đầy được, còn với Pháp Biên Địa thì cũng thế thôi, bởi dễ gì khi đó nhận được sự cảm thông trợ giúp của Thiện thần hộ pháp, đại chúng gần xa, hay 'điều giải' được những oán thân trái chủ này kia cho họ buông bỏ cho được, nếu thiếu đi sự chân thành, sự từ bi để tương thông cảm hóa với họ.
Các đoạn còn lại chúng ta cùng đọc và học tập, có nhiều chỗ rất quan trọng.
Văn Sao Tam Biên, quyển 2
Thư trả lời nữ cư sĩ Trần Liên Anh
Đại Sư Ấn Quang
