(Thư thứ năm)
Trung Phẩm đều là phẩm vị vãng sanh của người trọn vẹn điều lành
Hôm qua nhận được thư, biết Thánh Định đã vãng sanh Tây Phương, lâm chung chánh niệm, chết rồi đảnh đầu vẫn ấm, vẻ mặt càng đẹp, đang lúc nắng gắt mà chẳng hôi thối. Chỉ ngay từ mấy tướng lành ấy đã có thể quyết đoán bà ta được vãng sanh. Còn về phẩm vị vãng sanh thì nói chung là Trung Phẩm. Do Trung Phẩm đều là phẩm vị vãng sanh của người trọn vẹn điều lành nơi giới và điều lành thế gian; cũng chẳng cần phải nói cho dễ nghe, cứ khăng khăng bà ta Thượng Phẩm vãng sanh. Dẫu cho Hạ Phẩm Hạ Sanh thì nghiệp đã vượt trỗi chư thiên trong tam giới rồi, huống hồ vãng sanh trong bậc Hạ thuộc Trung Phẩm ư? Bốn mươi chín ngày không ngớt tiếng niệm Phật, chẳng những hữu ích cho người đã khuất mà quyến thuộc hiện tại cũng được lợi ích lớn lao!
Linh Nham theo lệ không niệm kinh, bái sám, phóng Diệm Khẩu, làm pháp sự hệ niệm, làm đàn Thủy Lục, truyền pháp, thâu nhận đồ đệ, giảng kinh, truyền giới, làm pháp hội. Công khóa hằng ngày giống như Phổ Thông Phật Thất. Chỉ những ai có tín tâm, chẳng chú trọng màu mè, hoa dạng, xin mở Phật thất thì liền chấp nhận. Nếu chèo kéo thân hữu rộng rãi và dẫn nữ quyến trẻ tuổi đến trước hôm mở thất và xong thất mới đi thì cũng không chấp nhận.
Năm Dân Quốc 17 (1928), Trương Minh Kỳ (là đệ tử quy y) mở Phật thất bốn mươi chín ngày, không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 18 (1929) cũng mở Phật thất hai mươi mốt lần, cũng không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 19 (1930), có hai mươi mấy lần mở Phật thất cũng không quá năm sáu gia đình đến dự, nhưng cũng chỉ ở một hai ngày hoặc đôi ba ngày mà thôi. Năm Dân Quốc 20 (1931) do người đông phòng hẹp, liền cho xây cất lớn, Phật thất càng đông hơn. Nay gởi cho ông một tờ sao bài bi ký, ông đọc sẽ biết.
Nếu ông muốn tạo lợi ích giúp cho Thánh Định, do bà ta lúc sống thường ăn chay, khi làm ma chay chắc ông cũng chẳng đến nỗi dùng rượu thịt. Trong khi tang ma và cúng giỗ sau này, xin ông hãy bảo lệnh lang đừng bắt chước thói tục. Trong khóa tụng sáng tối, lúc hồi hướng Quang sẽ đọc pháp danh của bà ta để hồi hướng trong hai mươi mốt ngày cho trọn hết tình thầy trò.
(Thư thứ sáu)
Ông nói trong khi làm việc cũng không quên niệm Phật, ấy là tướng cái tâm niệm Phật thuần thục, sao lại bảo là hôn trầm, thuộc về vô ký (không thiện, không ác)? Nhưng cũng chưa phải là “vô niệm mà niệm”, mới chỉ có hơi hướng của “vô niệm mà niệm” đó thôi! Nếu tưởng đấy chính là “vô niệm mà niệm” thì sẽ giống như dùi gỗ thấy khói bốc lên liền bảo là đã được lửa, thôi không dùi nữa, sẽ không có cách nào được lửa cả!
Nếu bắt chước các tông khác, chuyên chú trọng vào công phu, bỏ mặc tín nguyện...
Ông công phu khá tốt, đạt đến cảnh giới ấy cũng chẳng phải là dễ dàng, nhưng cần phải chuyên tinh dụng công, đừng học theo thói ham cao chuộng xa, thấy lạ nghĩ khác của con người hiện thời thì tương lai sẽ đạt được lợi ích, sẽ tự có những điều chẳng thể nghĩ bàn. Nhưng đấy là chuyện thuộc về Hạnh môn, chứ trong Tín Nguyện môn càng phải nên dốc sức ngõ hầu quyết định đạt được lợi ích sâu xa do niệm Phật. Nếu bắt chước các tông khác, chuyên chú trọng vào công phu, bỏ mặc tín nguyện chẳng nhắc tới thì sẽ trở thành pháp môn cậy vào tự lực, mất mát lớn lắm!
“Tam luân thể không” chính là chẳng cậy công, chẳng nghĩ đó là đức. Nếu như lời ông nói thì sẽ thành hỗn độn, vô tri. Thế nào gọi là “Thể không”? Nói “Thể không” nghĩa là rành rẽ phân minh, phân biệt rõ [đối tượng nhận lãnh] đáng nên bố thí hay không nên bố thí, nhưng chẳng thấy mình có công đức đối với người ta, cũng chẳng thấy người ta nhận lãnh ân đức của mình. Kinh Kim Cang dạy: “Chẳng chấp vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để bố thí” chính là nhằm diễn tả ý này vậy! Nếu chẳng phân biệt kẻ tốt lẫn người xấu, cứ tận lực thí cho người xấu thì sẽ khiến cho kẻ ấy tạo nghiệp, sẽ trở thành tội lỗi, chẳng gọi là công đức được!

Ảnh: Tượng Phật A Di Đà bằng đá nguyên khối từ thời Lý, tại chùa Ngô Xá, Nam Định. Đây là một trong hai pho tượng Phật từ thời Lý còn nguyên vẹn cho đến ngày nay, tượng được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2013.
Đoạn đầu: Hôm qua nhận được thư, biết Thánh Định đã vãng sanh Tây Phương, lâm chung chánh niệm, chết rồi đảnh đầu vẫn ấm, vẻ mặt càng đẹp, đang lúc nắng gắt mà chẳng hôi thối. Chỉ ngay từ mấy tướng lành ấy đã có thể quyết đoán bà ta được vãng sanh.
Mới đọc qua đoạn này chắc chúng ta đều nghĩ rằng các yếu tố như "lâm chung chánh niệm, chết rồi đảnh đầu vẫn ấm, vẻ mặt càng đẹp..." đó chính là các yếu tố để được vãng sanh chăng? Thật ra đó chỉ là các yếu tố, các điềm lành của một người đã được vãng sanh [thường như vậy] mà thôi, chứ không phải là có được các yếu tố này thì mới được vãng sanh, chúng ta cần nhận định rõ chỗ này, bởi phần đông hiện giờ hay bị nhầm lẫn giữa hai cái này! Cho nên cũng vì sự nhầm lẫn này nên mới 'ra đời' cái Pháp Biên Địa, cho rằng lâm chung chánh niệm phân minh rõ ràng thì Phật mới lai nghinh, còn như lâm chung chẳng niệm được thì là 'rớt đài', dẫu một đời tu hành tinh tấn thế nào đi nữa! Bởi vậy đây là chỗ cực kỳ quan trọng, và trong thời điểm hiện tại đây giới tu học thực tế hầu như đều bị nhầm lẫn chỗ này, nên hệ lụy là đa phần bị 'kéo tuột' vào cái Pháp Biên Địa [Hộ Niệm], coi đó là cái Pháp cứu cánh, không thể thiếu trong thời đại hiện nay [do không đạt nổi Nhất tâm bất loạn]. Tuy nhiên họ đâu biết rằng, lợi bất cập hại, bởi nếu chỉ cần kiến giải cho đúng [nghĩa lý vốn có của nó] và có Tín Nguyện tâm chân thật, thì những hành giả tinh tấn kia đã có thể tự tại vãng sanh vào lúc cuối rồi, chứ đâu phải cậy nhờ vào cái Pháp gọi là 'cứu cánh' của thời đại kia nữa, rồi thành ra kẻ được người không, rất phập phù, bấp bênh, lại chẳng thể thù thắng, phải vào Biên Địa! Cho nên chúng ta chỉ thấy cái 'được' của cái Pháp này, mà quên nhìn vào cái bị mất đi do cái Pháp này đem lại. Dĩ nhiên bản thân cái Pháp Hộ Niệm cho hành giả lúc giai đoạn cuối là không phải không cần thiết, mà phải nói rằng rất tốt, rất thiết thực cho hành giả nữa là đằng khác, miễn là sao? Miễn là phải trả lại đúng vai trò, vị trí của nó, tức là đó chỉ là một cái Pháp trợ duyên trợ lực cho hành giả lúc cuối mà thôi [với cùng nhau kết thiện duyên với người thân, con cháu, hữu tình], chứ như còn nâng nó lên hàng 'cứu cánh viên mãn', tức thành Pháp Chánh tông luôn thì là không thể được, rằng Pháp Chánh Tông phải để đúng cái Pháp Chánh tông ấy thể hiện, nắm giữ vai trò [vốn có] đó của nó, chẳng gì có thể thay thế được. Phải như thế thì việc lưu thông hoằng pháp mới đúng, mang lợi ích chân thật cho chúng sanh, giúp dễ bề thành tựu, nói cụ thể hơn là cần phải hiểu cho đúng nghĩa lý Kinh văn, không được hiểu sai lệch ra, như thế thì mới dễ bề phát khởi Tín tâm chân thật [mà không bị rơi vào tà tri tà kiến]. Cho nên Chánh Pháp thì mãi luôn là Chánh Pháp, không thể thay thế được, dù ở bất kỳ giai đoạn nào, thời kỳ nào. Bởi vậy nên đừng có lấy cái Pháp 'cứu vớt' ra mà đòi 'nâng tầm' lên thành Pháp chánh yếu chánh tông, dạ không được đâu, sai lệch [với Kinh giáo] hết, sao mà nó 'gánh' nổi, mà cũng không được làm thế, tam sao thất bổn, hệ lụy càng về sau càng không tốt! Cho nên, đã tu thì phải tu cho đúng đường đúng lối, đừng có đi sai đường, bởi nếu tu không đúng thì càng về sau càng rắc rối và lúc cuối chẳng thể đảm bảo thành tựu được. Bởi vậy, với Pháp môn này, tại vì sao cả đời tu tập tinh tấn mà đến lúc cuối lại chẳng thể đảm bảo thành tựu, rồi phải cậy nhờ Hộ Niệm này kia? Dạ, đó chính là do cả đời đã tu không đúng Pháp, đi không đúng đường đúng lối [mà Kinh giáo đã chỉ dạy], tức không y giáo phụng hành, bởi vậy nên cuối đời mới chẳng thể đảm bảo sự thành tựu vãng sanh. Chứ Phật nói trong Kinh sao thì cứ y như vậy mà tin mà hành suốt đời thì với Pháp môn này, trăm người như một, không sót người nào, không ai chẳng được Phật rước cả. Chỗ 'không đảm bảo' cho lúc cuối [thành tựu] đó là do tu không đúng đó chứ chẳng phải do năng lực bản thân [không đảm bảo] hay do cái Pháp này đòi hỏi quá cao siêu gì cả.
Tiếp theo: Còn về phẩm vị vãng sanh thì nói chung là Trung Phẩm. Do Trung Phẩm đều là phẩm vị vãng sanh của người trọn vẹn điều lành nơi giới và điều lành thế gian; cũng chẳng cần phải nói cho dễ nghe, cứ khăng khăng bà ta Thượng Phẩm vãng sanh.
Về Phẩm vị vãng sanh thì nói chung luận giải một cách rõ ràng, tách bạch cũng không phải dễ dàng. Trong Kinh Vô Lương Thọ chúng ta đã biết qua ba bậc vãng sanh là như thế nào, còn trong Quán Kinh lại chú trọng đức hạnh, mức độ gìn giữ giới luật, để làm cơ sở luận định. Còn Chư Tổ Sư thì nói "phẩm vị cao hay thấp là do công phu sâu hay cạn", tức phụ thuộc vào cảnh giới công phu hành trì. Thật sự nói chung dù luận như thế nào đi nữa thì phẩm vị được sanh về cũng phụ thuộc vào hai thứ của hành giả, đó là công đức [nhiều ít] và cảnh giới [tâm địa, công phu] ra sao, thì sẽ được sanh về với Phẩm vị tưng ưng như thế. Chẳng hạn, vị nào hiện tại đã đoạn trừ được phiền não tham sân si, giới luật nghiêm cẩn, thì chắc chắn nếu được sanh về sẽ ở cảnh giới không thể thấp, rằng sẽ "hoa khai kiến Phật, ngộ vô sanh" ngay, còn như hiện tại đây hãy còn phàm phu chưa đoạn được phiền não thì khi được sanh về sẽ ở trong hoa sen một thời gian, để trong đó tu tập cho đoạn hết nghiệp hoặc rồi mới 'hoa nở thấy Phật'; hoặc giả một người phát tâm từ sớm, cả đời tinh tấn niệm Phật, tu hành, giữ gìn giới luật, chăm chỉ bồi dưỡng đức hạnh, thì cuối đời nếu vãng sanh thì chắc chắn phải hơn dạng phát tâm muộn, cuối đời mới bắt gặp Chánh Pháp rồi phát tâm tu trì rồi được thành tựu; hay như dạng tu tập cả đời tự lợi lợi tha, "tu chư công đức" thù thắng, lợi lạc hữu tình, thì phải hơn dạng chưa làm được nhiều những điều đó, cái này trong kinh Vô Lượng Thọ nói rất chi tiết. Tuy nhiên, nếu chúng ta xét kỹ thì các cơ sở để luận giải trên đều có quan hệ mật thiết với nhau cả, chứ chẳng phải tách biệt gì. Chẳng hạn, nếu hành giả mà nghiêm trì giới luật ở mức cao thì chắc chắn trong tu trì công đức sẽ viên mãn, thù thắng hơn hẳn, cũng như đức hạnh, tâm địa, cũng như năng lực cảnh giới công phu sẽ vượt trội, từ đó mà cảnh giới được sanh về cũng phải tương ưng xứng đáng theo. Còn như hành giả nào mà tâm địa hãy còn phàm phu phiền não tham sân si hay bị dấy khởi, chưa điều phục được, hay dạng còn tham đắm ít nhiều những ngũ dục thế gian này kia [đặc biệt là cái sắc giới], thì thôi, xác định, mức độ công phu chẳng thể vào 'sâu' nổi đâu, chỉ lấy sự tinh tấn, đều đặn, chuyên cần, thời gian lâu dài cả đời để bù lại, bồi đắp công đức lâu ngày chày tháng, như thế thì cảnh giới được sanh về cũng sẽ nâng lên phần nào [nhưng vẫn ở trong hoa sen chưa nở ngay được]. Tuy nhiên nếu tất cả đều theo đúng đường đúng lối, tức tu đúng Tông chỉ tông yếu Pháp môn thì vẫn được sanh về và vào thẳng Chánh quốc. Nói chung, với Pháp môn này, gọi là Pháp cậy vào Tha Lực [của Phật], đó là 'cậy' vào như thế nào? Đó chính là 'cậy' vào ở cái công đoạn để được sanh về cõi ấy thôi [như thế cũng là thù thắng quá mức rồi], còn lại cảnh giới, phẩm vị này kia sau khi được sanh về thì hoàn toàn phụ thuộc ở hành giả đương nhân tu tập hành trì như thế nào lúc đang còn nhân địa đây thôi, chứ chẳng do yếu tố nào khác cả, ví dụ trường hợp được sanh về Biên Địa cũng là do cái quả còn tâm nghi hoặc mà sanh ra, chứ Phật đâu muốn chúng sanh phải sanh về đó đâu, mà Ngài muốn tất cả đều được vào Chánh quốc cả, bởi ở đó thù thắng hơn nhiều, rằng "được nghe Pháp, thấy Tam Bảo, cúng dường Thập phương Chư Phật...".
Các đoạn còn lại chúng ta cùng đọc và học tập, có nhiều chỗ rất trọng yếu.
Văn Sao Tam Biên, quyển 4
Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan
Đại Sư Ấn Quang
