“Trọn Hết Bổn Phận”

NPSTD7

 

“Trọn Hết Bổn Phận”

Thư trả lời cư sĩ Hà Hy Tịnh

Do thường giữ ý nghĩ “chẳng được vãng sanh” nên chẳng tương ứng với Phật
Người tu Tịnh nghiệp lấy lòng tin chân thành, nguyện thiết tha làm gốc. Nếu niệm đến mức nhất tâm bất loạn thì rất tốt. Chớ nên nghĩ rằng “chưa đạt được nhất tâm bất loạn sẽ chẳng thể vãng sanh!” Nếu thường giữ ý tưởng ấy, đắc [nhất tâm] thì được. Nếu không đắc thì do thường giữ ý nghĩ “chẳng được vãng sanh” nên chẳng tương ứng với Phật! (Đây là căn bệnh lớn “biến khéo thành vụng”). Cầu siêu cho cha mẹ, chỉ mong [cha mẹ] được vãng sanh Tây Phương, sao lại hỏi “sẽ đọa lạc trong đường nào?” Ý ấy dường như tốt đẹp, nhưng quả thật đã gây ra chướng ngại, vì thần thức của con người bị nghiệp chuyển. Ông dùng tâm chí thành niệm Phật cho mẹ, do cậy vào Phật lực nên mẹ liền được vãng sanh. Hỏi chỗ đọa lạc tức là nghĩ [mẹ] chưa được vãng sanh! Ông đã đọc Văn Sao, Thập Yếu, cố nhiên chẳng cần xin Quang khai thị nữa! Con người hiện thời thường chuộng hư danh, chẳng tu thật hạnh, đấy là một chướng ngại lớn cho sự học đạo. Nếu chẳng làm giả thì mỗi một giọt mưa sẽ là một giọt thấm; hễ làm giả sẽ như ăn cơm trong mộng, vô ích cho cái bụng rỗng!

 

Những sách ông muốn thỉnh hiện thời chẳng thể gởi được. Do nhu cầu quân sự và dân bị nạn rất đông, bưu điện không nhận tất cả những bưu kiện, chẳng biết khi nào mới kết thúc! Hãy nên khuyên mọi người chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu [chiến tranh] sớm kết thúc và làm kế dự phòng. Hiện thời Quang không đủ trí nhớ, sau khi yên ổn hãy nên gởi thư khác để thỉnh thì được. Nếu không, Quang vừa xem qua mắt liền quên ngay trong bữa ấy. Mong hãy sáng suốt soi xét! Hy Giác bệnh chưa lành, ông thường bị đau đầu, hãy đều nên niệm Quán Âm để làm phương cách chữa trị, chắc chắn mau được lành bệnh! (Ngày Hai Mươi Ba tháng Bảy năm Dân Quốc 26 - 1937)


Thư trả lời cư sĩ Trương Bội Phân Mộ Lan

“Trọn hết bổn phận”
Gần đây các tai nạn chiến tranh, giặc giã nối tiếp nhau xảy ra, căn bản là do gia đình thiếu giáo dục mà nên nỗi! Người học Phật ai nấy ắt phải trọn hết bổn phận. Nói “trọn hết bổn phận” chính là phải chăm chú “cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành”. Tám sự này mỗi một người đều có đủ. Trên có cha mẹ thì là mang bổn phận làm con. Dưới có con cái thì là mang bổn phận làm cha. Tự mình dùng người thì mang bổn phận làm chủ. Làm việc cho người khác tức là mang bổn phận tớ. Những chức phận khác đều có thể làm trọn, chỉ có mỗi chức phận cha mẹ là khó thể trọn hết được! Thật ra, trọn hết [chức phận làm cha mẹ] không khó, chỉ vì cả cõi đời không ai đề xướng, mọi người chỉ biết nuông chiều [con cái] mà chẳng biết giáo dục, đến nỗi nuôi [con cái] thành phường bại hoại, tàn sát lẫn nhau, khiến cho nước chẳng ra nước, dân chẳng thành dân.

 

Đó gọi là [Giáo] Dục
Nói đến giáo dục thì từ lúc trẻ nhỏ bắt đầu hiểu biết liền nói với nó về nhân quả báo ứng và đạo lý làm người, ắt phải làm sao cho tâm nó biết sợ ác báo, hâm mộ thiện báo, sẽ chẳng đến nỗi phạm thượng, chẳng chịu làm theo lời dạy. Lúc bé đã như thế, tập quen thành tánh, dưỡng thành thiên tư lương thiện. Đó gọi là Dục (育). Dục là dưỡng. Nếu chẳng biết điều này thì sẽ dưỡng thành tánh chất hung ác, nhẹ thì ngỗ nghịch bất hiếu, nặng thì giết cha giết mẹ. Xét đến nguồn cội, đều là do cha mẹ chúng chẳng chịu dạy dỗ từ thuở nhỏ mà ra.


Tôi thường nói: “Công đức lớn nhất trong thế gian không gì bằng khéo dạy dỗ con cái. Tội lỗi lớn nhất trong thế gian không gì bằng chẳng dạy dỗ con cái. Ai nấy đều khéo dạy dỗ con cái thì thiên hạ tự nhiên thái bình. Ai nấy chẳng dạy bảo con cái thì thiên hạ chắc chắn tang tóc, loạn lạc”. Vì vậy nói: “Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm”. Lời này cả cõi đời không ai nói, nên tôi nói đại lược với các ông. Đối với chuyện ăn chay niệm Phật, cầu sanh Tây Phương thì đã có trong các sách được gởi đến. Quang đã bảy mươi chín tuổi rồi, sáng chẳng đảm bảo được tối. Từ nay chớ nên gởi thư đến nữa, cũng đừng giới thiệu ai khác đến quy y vì không có mục lực, tinh thần để thù tiếp vậy! (Ngày Hai Mươi Tám tháng Giêng năm Dân Quốc 28 - 1939)

ht121255

Ảnh minh họa: Hiếu tử

Thư đầu, đoạn: Người tu Tịnh nghiệp lấy lòng tin chân thành, nguyện thiết tha làm gốc. Nếu niệm đến mức nhất tâm bất loạn thì rất tốt. Chớ nên nghĩ rằng “chưa đạt được nhất tâm bất loạn sẽ chẳng thể vãng sanh!”...

Thực tế thì đa phần hành giả Tịnh Độ nhưng tu theo đường lối Tự lực niệm Phật thì cứ 'gầy dựng' cái tâm 'chẳng thể vãng sanh' thôi, chứ có khi nào khởi được cái tâm 'chắc chắn vãng sanh' hay 'nhất định vãng sanh' đâu. Đơn giản là do 'lực bất tòng tâm', cái tâm thì lúc nào cũng muốn được Nhất tâm cả nhưng cái 'lực' thì lại chẳng chịu 'tòng' theo, nên chẳng bao giờ được thỏa mãn cả, nên lúc nào cũng lo nghĩ tiêu cực, sợ chẳng được vãng sanh. Không những dạng gầy dựng công phu [mong cho đạt Nhất tâm], mà còn dạng không gầy dựng Tín nguyện mà chuyên cậy vào Pháp Hộ Niệm cũng vậy, suốt ngày cứ lo nghĩ tới phút cuối không biết có niệm được câu Phật hiệu hay không, lúc đó đầu óc có tỉnh táo hay không đây? Có được hộ niệm tốt không? Hay lại bị mê man bất tỉnh thì coi như xong vậy! Rồi từ ý niệm này bắt đầu phát sinh tư tưởng cần vun bồi thật nhiều phước báu, làm thật nhiều việc thiện, rồi Phật sự này kia thật nhiều, để làm chi? Dạ để cuối đời trông nhờ phước báu này mà tâm được tỉnh táo sáng suốt, niệm được câu Phật hiệu đến cuối cùng. Rồi như thế tạp tâm tạp hạnh bắt đầu phát sanh ra. Miệng thì cứ nói 'Một câu Phật hiệu là đủ' nhưng tâm hạnh lại khác, do cứ mang nổi lo sợ 'vấn vương' mãi như thế thành ra không cách gì 'ngôn hạnh' tương ưng được, tức một câu A Di Đà Phật là đủ. Hoặc giả các ban Hộ Niệm cũng đa phần xuất phát từ cái tâm 'sợ hãi' này là chính, tức nghĩ mình Hộ Niệm cho người thì mai mốt có người hộ niệm lại cho, bởi cứ sợ lúc cuối không được hộ niệm thì không cách gì vãng sanh cho được, còn xuất phát từ tâm Từ dĩ nhiên cũng có chứ không phải không nhưng không 'lớn mạnh' bằng. Cho nên, với thời cuộc như hiện nay, người mà thiếu Tín tâm thì không cách gì chuyên tu chuyên niệm được đâu, càng thiếu Tín tâm thì tạp hạnh càng nhiều, bởi thế hãy nhìn những gì họ 'làm', đừng có nhìn những gì họ nói. Cho nên, nói chỉ cần tin chắc chẳng nghi những gì Phật tuyên thệ ["nãi chí thập niệm"], rồi cứ chân thật hành trì giữ mãi như thế, cuối đời chắc chắn có cái vé 'chính ngạch' vào thẳng Chánh quốc, liễu sanh thoát tử chỉ một đời. Chỉ đơn giản như vậy thôi, nhưng lại không chịu, cứ tìm cầu. Dạ đó là do đâu? Liệu rằng điều này có quá khó hay 'vượt sức' gì chăng?

Đoạn tiếp: Những sách ông muốn thỉnh hiện thời chẳng thể gởi được. Do nhu cầu quân sự và dân bị nạn rất đông, bưu điện không nhận tất cả những bưu kiện, chẳng biết khi nào mới kết thúc! Hãy nên khuyên mọi người chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu [chiến tranh] sớm kết thúc và làm kế dự phòng.

Trong những tình huống nguy cấp hay bức bách, thì rõ ràng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ ứng nghiệm nhanh hơn, nên tai qua nạn khỏi một cách mau chóng hơn, do là đâu? Do là Bồ Tát có Hạnh nguyện tầm thinh cứu khổ, nên khi gặp hiểm nguy, chí thành niệm thì "không nạn gì mà không được cứu thoát", đây là lời Phật thuyết trong Kinh Vô Lượng Thọ vậy. Còn nếu gặp những lúc này niệm Phật cũng được cứu thoát khỏi tai ách chứ không phải là không, nhưng không nhanh chóng, mau lẹ như niệm Quán Âm.

Thư thứ hai, đoạn đầu: Gần đây các tai nạn chiến tranh, giặc giã nối tiếp nhau xảy ra, căn bản là do gia đình thiếu giáo dục mà nên nỗi! Người học Phật ai nấy ắt phải trọn hết bổn phận. Nói “trọn hết bổn phận” chính là phải chăm chú “cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận...

Như chúng ta đã từng nói nhiều lần, muốn thành Phật, thành Bồ Tát thì trước hết hãy làm một người tốt đi đã, tức là các Pháp thế gian phải được thực hành tốt, giống như học sinh cấp hai thì kiến thức cấp một phải thông suốt, học sinh cấp ba thì cấp hai phải thông suốt vậy, nếu không thì chẳng thể 'tiếp thu' nổi, mà các thầy cô hay gọi là 'mất căn bản' vậy. Trong tu học cũng vậy, đó gọi là thiếu nền tảng, gốc rễ. Bình thời này nhiều khi chưa nhìn thấy được đâu, đợi tới giai đoạn cuối nó mới lộ diện ra, ai tu đúng ai tu sai trong đời nó mới 'quay trở lại' trả cái quả. Lúc đó tuổi già sức yếu, thời gian chẳng còn bao nhiêu thì liệu có 'sửa' nổi không? Cho nên trong tu học đó là cần tu 'đúng', còn đúng nhiều thì tốt nhiều, đúng ít thì tốt ít thôi, sẽ không có xấu [tức không có gây trở ngại], còn một khi tu sai thì nhiều khi càng nhiều thì trở ngại [sau này] càng lớn vậy. Bởi vậy, trong tu tập chúng ta cần 'Buông xả', nhưng tùy giai đoạn mà thực hiện cho đúng. Chẳng hạn, lúc còn trẻ khỏe, hay trung niên, hay còn trách nhiệm cần phải gánh vác gì đó thì phải cố gắng hoàn thành bổn phận, trọng trách của mình với gia đình, công việc, đoàn thể, xã hội, chẳng thể buông bỏ hay phó thác được, lúc này học tập buông bỏ là chỉ cố gắng buông bỏ những tập khí tham sân si, giảm ham muốn, ngũ dục, giảm đi cái danh cái lợi, sống biết đủ, vun bồi đức hạnh, thiện căn, phước đức, nhân duyên, rồi lấy "Tín Nguyện Niệm Phật làm chí hướng sự nghiệp" cho cả quãng đời còn lại, rồi Tự lợi lợi tha trong khả năng có thể, trước từ thân đến sơ, học tập thực hành Tịnh Nghiệp Tam Phước, Lục Độ Vạn Hạnh, Chánh - Trợ song tu... Cho đến giai đoạn cuối đời, khi lo xong bổn phận với Cha Mẹ, với con cái rồi thì lúc đó mới có thể buông bỏ tất cả dành trọn thời gian cho con đường Đạo của mình. Lúc đó thì tùy nhân duyên, có thể vẫn là Chánh Trợ song tu, hoặc là nếu có thể thì buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật cầu vãng sanh. Chúng ta không nhất thiết phải đề ra những phương án cao trỗi vượt khả năng hay hoàn cảnh nhân duyên của mình, như thế vô tình thành chướng ngại, cản trở Tín nguyện tâm của mình, chỉ cần vừa sức hợp lý, chuyên cần bền chặt là được, quan trọng nhất đó là luôn duy trì xuyên suốt cái Chánh hạnh chánh nghiệp "Tín Nguyện Niệm Phật, cầu sanh Cực Lạc" là được. Làm sao càng về cuối Tín Nguyện tâm càng vững chắc, bất sanh nghi hoặc, chuyên cần tinh tấn, đừng nên trông cậy vào gì khác, kể cả sức mình [tức phước báu nhân lành của mình], mà chỉ tin tưởng trông cậy vào Phật từ lực cứu vớt mình mà thôi. Thật sự là chẳng có cái 'lực' nào thù thắng chắc ăn bằng Phật nguyện lực cả, chúng ta hãy thử 'đặt lên bàn cân' [theo đúng nghĩa đen] xem xem, liệu có sức mạnh nào bằng sức nguyện của Phật A Di Đà? Ở đây cần nói rõ là sức mạnh Phật nguyện lực nói ở đây là dành cho việc cứu độ tiếp dẫn về Cực Lạc lúc cuối đời, chứ chẳng phải gia hộ gia trì gì đó trong suốt quãng đời tu tập đâu nhé, bởi cái này có chứ không phải không, nhưng chỉ là 'chút ít, nhỏ nhoi' so với việc cứu vớt rốt ráo kia. Nên nhiều khi trong cuộc sống thấy sao tôi niệm Phật nhiều mà vẫn bị cái này cái kia, rồi cho rằng Phật không linh không cảm ứng, rồi nghĩ những cái nhỏ này mà Phật không 'giúp' thì sau này sao cứu mình được vãng sanh đây, đâm ra mất Tín tâm vào Phật lực. Những kiểu như thế không phải ít đâu. Thật ra Phật giúp chúng sanh là giúp cho rốt ráo viên mãn luôn [lúc cuối đời], còn sự việc trong đời là tùy nghiệp duyên phải đón nhận, có nhân có quả, phải thọ nhận, Phật có giúp thì cũng trong 'chừng mực' nào đó thôi, Bổn Nguyện của Phật là dành cho độ thoát lúc cuối là chính.

Các đoạn còn lại chúng ta cùng đọc học tập. 

 

Văn Sao Tam Biên, quyển 1

Đại Sư Ấn Quang

Như Hòa chuyển ngữ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.