Chánh kinh:
Bỉ Phật quốc trung, thường như nhất pháp, bất vị tăng đa. Sở dĩ giả hà? Do như đại hải, vi thủy trung vương, chư thủy lưu hành, đô nhập hải trung. Thị đại hải thủy, ninh vi tăng giảm.
Trong cõi Phật ấy thường như nhất pháp, chẳng tăng thêm nhiều. Vì sao vậy? Ví như biển cả là vua trong các dòng nước. Các dòng nước chảy đều đổ vào biển mà nước biển lớn ấy chẳng hề tăng, giảm.
Giải:
Nếu có kẻ ngờ rằng mười phương phàm, thánh đều sanh về Cực Lạc thì một cõi như vậy làm sao chứa đựng hết nổi? Chẳng phải như vậy! Cõi nước Cực Lạc “thường như nhất pháp, bất vị tăng đa” (thường như nhất pháp, chẳng tăng thêm nhiều).
Chữ “nhất pháp” Phật nói đó ý nghĩa rất sâu, chúng sanh khó thể lãnh hội nổi nên Phật dùng biển cả làm thí dụ để giảng rõ nghĩa ấy. Biển cả ví như Cực Lạc, các dòng nước ví như chúng sanh trong mười phương. Các dòng nước đổ vào biển, biển cả chẳng tăng thêm. Cũng thế, chúng sanh trong mười phương vãng sanh Cực Lạc nhưng số người nơi Cực Lạc cũng chẳng tăng thêm. Hơn nữa, con số các vị Ðại Sĩ cõi ấy lại trở vào uế độ cứu độ quần sanh là vô lượng, nhưng thánh chúng cõi Cực Lạc vẫn chẳng tăng, giảm. Vì thế, nói “thường như nhất pháp, ninh hữu tăng giảm” (thường như một pháp, nào có tăng giảm).
Tôi tạm dùng toán học của thế gian để biện giải ý nghĩa này. Trong toán học có khái niệm “lớn vô cực” hoặc “lớn vô hạn”, thường được ký hiệu là , nghĩa là con số rất lớn vượt khỏi mọi hạn lượng nên gọi là “lớn vô hạn”. Nếu cộng thêm bất cứ con số hữu hạn vào thì nó vẫn là vì đã biểu thị con số lớn vô lượng nên nếu cộng vào mà được con số lớn hơn thì chẳng còn là số lớn vô hạn nữa! Hơn nữa, dù có trừ bớt bất cứ con số hữu hạn nào thì nó vẫn bằng vì nếu bị giảm nhỏ đi thì chẳng còn là con số lớn vô hạn nữa! Vì vậy, “thường như nhất pháp… ninh hữu tăng giảm”. Cõi Cực Lạc là lớn vô hạn nhất trong những thứ lớn vô hạn nên vượt ngoài hết thảy số lượng của thế gian vậy.
Hơn nữa, kinh này hiển thị cảnh giới sự sự vô ngại chẳng thể nghĩ bàn, thù thắng vi diệu. Do Cực Lạc chính là Hoa Tạng nên rộng hẹp tự tại, một chính là nhiều, nhiều chính là một, dung thông nhiếp thủ lẫn nhau, không thể dùng ngôn ngữ, tư duy thấu triệt nổi!

Ảnh minh họa: "Bấy giờ, Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Từ đây tới phương Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Trong cõi đó, có đức Phật hiệu A Di Đà, hiện đang nói pháp.” “Xá Lợi Phất, vì sao cõi đó tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi nước đó không có những sự khổ, chỉ thọ hưởng các điều vui, nên cõi đó tên là Cực Lạc."
(Kinh A Di Đà bằng tranh)
Chúng ta đến với phần tiếp theo trong Phẩm 29, Nguyện Lực Hoằng Sâu. Trong phần đoạn này Phật sau khi nói về "Nguyện lực hoằng thâm" cụ thể thế nào trong phần đoạn trước thì đến đây, với cái "bổn hoài" rộng lớn như vậy [phổ độ khắp chúng sanh thập phương vân tập về] thì liệu cõi nước ấy có 'dung chứa' nổi không, rồi chúng sanh sau khi vân tập về thì thường hành cái Pháp gì đây, rằng liệu có nhất quán nhau không hay mỗi người hành mỗi 'kiểu' khác nhau? Đọc đoạn Kinh văn này chúng ta thấy rõ ràng chúng sanh vân tập về đó "thường như nhất pháp, bất vị tăng đa" [thường hành một pháp, không tăng thêm nhiều [pháp]]. Vậy "nhất Pháp" đó là Pháp gì? Dạ vâng, chắc chắn đó chỉ có thể là Niệm Phật, không thể là Pháp nào khác nữa cả. Như vậy, chúng sanh nơi cõi ấy vẫn là "thường hành niệm Phật", dĩ nhiên bên cạnh đó còn kèm nhiều Pháp khác như đi khắp Thập phương cúng dường Chư Phật, rồi nghe Pháp âm, Kinh hành, tọa thiền, tùy nguyện đi độ sanh... Đó là nói về Pháp, còn nói về số lượng, quy mô chúng sanh vân tập về [thì sao cõi ấy dung chứa hết]? Ở đây Phật dùng thí dụ "ví như biển cả là vua trong các dòng nước. Các dòng nước chảy đều đổ vào biển mà nước biển lớn ấy chẳng hề tăng, giảm" để cho chúng ta dễ hình dung. Thật ra đây là Phật lấy ví dụ chung cho cả về Pháp lẫn số lượng, quy mô chúng sanh. Rằng một câu Phật hiệu dung chứa tất cả các Pháp trong đó, chẳng thiếu thứ gì, rằng "một câu Phật hiệu thành Phật còn dư" cơ mà, đây chính là cái Pháp thẳng tắt nhất để thành tựu Phật quả, cho dù ở đâu cũng vậy thôi, và ở cõi ấy cũng vậy, không khác gì cả. Dĩ nhiên rằng nếu tu các Pháp khác cũng có thể thành tựu đạo quả chứ không phải là không, nhưng sẽ lâu dài hơn, mất thời gian hơn nhiều, và cũng nhọc nhằn hơn nhiều, nên không được các vị ấy dụng "thường như" mà chỉ để bổ sung, là trợ đạo, tùy duyên mà sanh khởi thôi. Hơn nữa ở cõi ấy chúng sanh đã liễu thoát sanh tử, đã được Bất thoái chuyển, không còn sợ bị đọa lạc, bị luân hồi, hay sợ bị thụt lùi, cho nên việc tu tập hành trì ở đó sẽ thoải mái tự tại hơn ở những nơi khác rất nhiều, nhất là những nơi còn trong sanh tử luân hồi như ở Ta Bà đây. Tuy nhiên cái nào cũng có cái giá của nó, chẳng hạn như ở nơi bức bách, nhiều ma chướng ngoại đạo như ở đây thì chắc chắn sẽ khó tu hơn nhiều nhưng như thế sẽ như Phật nói là "tu một ngày một đêm ở đây bằng trăm năm ở Cực Lạc", dĩ nhiên là phải tu thật sự xuyên suốt mới được chứ chẳng phải lúc tu lúc không. Đó là nói về Pháp, còn về số lượng, quy mô chúng sanh thì sao? Rằng liệu cõi ấy có đủ sức dung chứa tất cả [Pháp giới chúng sanh] vân tập về không? Câu trả lời dĩ nhiên là có, thừa sức. Như Phật đã lấy ví dụ biển cả có thể dung nạp trăm sông "các dòng nước chảy đều đổ vào biển mà nước biển lớn ấy chẳng hề tăng, giảm", vì sao như vậy? Đơn giản là do thứ nhất nếu xét về quy mô, biển cả quá rộng lớn so với trăm ngàn con sông lớn nhỏ kia, thứ hai, cái này mới là chính, đó là sau khi nước từ trăm sông khắp năm châu đổ vào biển cả thì cho dù biển cả rộng lớn bao la cở nào đi nữa thì sau một thời gian lâu dài, lâu ngày chầy tháng thì theo thời gian nước biển cũng phải tăng dần lên chứ, dù cho rất chậm đi nữa, tuy nhiên vấn đề chính ở đây là nước sau khi đổ vào biển cả đâu phải cứ ở đó mãi đâu, mà sẽ bốc hơi dần lên, rồi tạo thành mưa rơi xuống khắp nơi, từ đó mà các con sông mới tiếp tục có nước mà xuôi lại về biển, đây chính là vòng tuần hoàn của nước chúng ta đã biết. Cho nên cho dù có trăm ngàn con sông lớn nhỏ ngày đêm liên tục đổ vào biển cả thì nước ở đó cũng chẳng tăng giảm là vậy. Tương tự như thế, chúng sanh được vân tập về cõi ấy tu tập hành đạo, rồi liệu từ từ có 'bốc hơi' đi không, hay cứ ở đó mãi? Dạ vâng, sau khi nương nhờ y báo chánh báo nơi cõi ấy, tức từ Phật lực, Pháp lực, chúng sanh lực để viên thành Phật quả rồi thì chắc chắc các vị ấy phải tiếp tục đi độ sanh muôn nơi, truyền trao xiển dương cái Pháp đạo này cho chúng sanh, 'triển chuyển không nghỉ' vậy, rằng 'trên cầu Phật quả, dưới hóa độ chúng sanh' mà. Cho nên đừng lo là cõi ấy làm sao dung chứa hết tất cả cho được đây, dạ không có đâu, việc này Phật đã tính toán hết cả rồi. Bởi vậy hình tượng mà Phật ví như trăm sông đổ vào biển cả ở đây thật gần gủi, dễ hiểu mà cũng rất chân thật vậy.
Chúng ta dành một chút để tiếp tục nói về việc tu trì, học tập gầy dựng Tín Nguyện tâm trong tu học. Chúng ta thấy rằng, trong tu tập, việc để có Tín tâm chân thật chẳng nghi cũng có nhiều cách thức khác nhau chứ chẳng phải chỉ có một, mà tùy thuộc nhân duyên, căn cơ mỗi người. Chẳng hạn có người chẳng cần học Giáo lý gì cả, chỉ cần được khai thị "niệm Phật, Phật rước" rồi cứ thế chân thật tin tưởng, hành trì cả đời không đổi, như thế cũng chắc chắc cuối đời được thành tựu, vào thẳng Chánh quốc; hay như dạng dễ thấy hơn ở giải đoạn gần đây, đó là bị lâm vào các hoàn cảnh ngặt nghèo, như mắc bệnh nan y, ung thư này kia, bị bác sĩ chê trả về, rồi được thiện tri thức khai thị niệm Phật, rồi cứ ôm máy mà niệm theo, càng niệm càng đỡ bị đau đớn hành hạ, càng cảm thấy dễ chịu, như thế càng thích càng ghiền niệm Phật, dạng này cũng rất dễ thành tựu vì đã đạt "chí tâm ưa", cứ giữ như vậy đến lúc cuối cũng chắc chắn được Phật rước, nhưng có lẽ phải sanh vào Biên Địa một thời gian, bởi đó mới là có "ưa" thôi chứ "tin" thì chưa phát khởi đầy đủ, chỉ dạng nào có Tín tâm đầy đủ, "bất sanh nghi hoặc", rằng không còn tâm nghi hoặc nữa thì mới được vào thẳng Chánh quốc, chúng ta phải nắm rõ chỗ này. Vì sao lại như vậy? Bởi là do Biên Địa chính là để làm gì? Để cho chúng sanh về đó mà tiêu trừ đi tâm nghi hoặc hết đi, khi nào không còn nghi tâm nữa khi đó mới được vào Chánh quốc, cho nên rằng khi ở đây dù tu nhiều ít, sâu cạn, giỏi dở ra sao không cần biết nhưng hễ còn nghi tâm là chưa thể vào được Chánh quốc, đơn giản là như vậy. Mà để 'loại trừ' cái nghi tâm này ngay trong bình thời tu tập đây thì dễ hay khó? Dạ vâng, có một cách đơn giản mà có lẽ không thể đơn giản hơn [do chính Chư Tổ Sư các Ngài đã chỉ dạy], đó chính là nương tựa vào Kinh văn Phật thuyết [Bổn Nguyện] mà chúng ta cứ 'ra rả' suốt ngày đây. Rằng chẳng cần 'động não', chẳng cần suy nghĩ, chẳng cần qua bất cứ bước trung gian nào, cứ 'sao y' Kinh Phật thuyết ra mà tin mà hành y hệt như vậy, như vậy mới dễ phát sinh Tín tâm chân thật, tức không cần suy lường hay vận dụng cái trí của mình gì cả, bởi chỉ cần 'vận dụng' cái trí mình cái là lại dễ thành nghi tâm, phàm phu chúng ta là như vậy, bởi do là cái trí mình không có tới [đối với cái Pháp này], nên hễ 'động não' cái là đủ thứ thắc mắc cứ khởi lên không cách gì giải tỏa rốt ráo cho được, nên nghi tâm cứ thế mà sanh khởi bởi nó đâu có được giải nghi hết đâu. Cho nên trong Kinh Phật có nói là "Thanh Văn ức kiếp suy trí Phật; Tận hết sức cũng không thể hiểu", đến Thanh Văn còn vậy huống hồ chi phàm phu như chúng ta. Còn với bậc Thánh nhân, Thượng căn thượng trí hay Bồ tát tái lai thì may ra, chỉ ''may ra' thôi chứ chưa chắc. Cho nên cứ là 'sao y' Kinh giáo mà tin mà hành, thế là xong [chỗ "nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác"], rằng y như 'học vẹt' vậy, không khác, chỉ khác chỗ là chúng ta biết nhẫn nại, biết kiên định, biết bỏ qua những kiến giải không đúng khác, đây mới là chỗ cần 'vận' cái trí của mình đây, chứ chẳng phải như 'con vẹt' đụng đâu học đó chẳng chọn lọc, chẳng phân biệt được, chẳng kiên định được, cái 'trí' ta cần chính là chỗ này, 'trí' con người phải hơn con vật chỗ đó. Cho nên đơn giản chỉ có vậy. Còn như không lẽ lời Kinh từ chính kim khẩu Phật thuyết ra mà lại sanh nghi hoặc chẳng chịu tin nữa thì thôi, chịu, dạng đó thường là do đâu? Dạ dạng đó thường không phải 'ngu si' đâu, mà thường là do thông minh tài giỏi đấy, trớ trêu là vậy, bởi do tài trí nên họ thường hay 'vận' cái trí vào bất cứ thứ gì, nhưng cái 'trí' của thế gian khác với cái 'huệ' ở đây nhé, không phải giống nhau đâu, thậm chí nhiều khi phải ngược lại nữa, cái 'huệ' trong đạo này đó chính là biết vâng theo lời Kinh Phật thuyết vậy, rằng biết cái trí mình nằm ở đâu [so với trí Phật], nên thôi, tốt nhất cứ nương theo trí Phật đi, tức nương theo những gì Phật đã thuyết ra đã truyền trao lại, cứ chân thật nắm bắt, tin tưởng, và hành trì theo, như thế đã là 'đại trí' 'đại huệ' rồi vậy, đừng nên sáng tác, hay bổ sung thêm bớt gì cả, ngàn vạn lần không nên.
Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ
Phẩm 29. Nguyện Lực Hoằng Thâm
Ngài Hoàng Niệm Tổ
