Trong Phật Pháp, Pháp Môn Vô Lượng, Không Một Pháp Môn Nào Chẳng Lấy Giới Làm Cơ Sở

 

 

NPSTD7

Trong Phật Pháp, Pháp Môn Vô Lượng, Không Một Pháp Môn Nào Chẳng Lấy Giới Làm Cơ Sở

Trong Phật pháp, pháp môn vô lượng, không một pháp môn nào chẳng lấy Giới làm cơ sở, chẳng lấy Tịnh Độ là chỗ quy túc. Hai người các vị đã muốn quy y Tam Bảo thì hãy nên sốt sắng giữ tịnh giới của đức Phật. Người tại gia lấy Ngũ Giới làm căn bản. Bốn giới đầu trong Ngũ Giới, tức “giết, trộm, dâm, dối”, chính là Tánh Giới. Bất luận đã thọ giới hay không đều chớ nên phạm; nhưng kẻ chưa thọ giới mà phạm thì dựa theo sự để luận định tội lỗi. Kẻ thọ giới mà phạm thì ngoài việc dựa trên sự để luận tội ra, còn phạm thêm một tầng tội lỗi nữa, tức là phạm giới. Giới “không uống rượu” gọi là Giá Giới, nghĩa là đức Phật ngăn cấm, chẳng cho phép con người uống rượu! Kẻ chưa thọ giới mà uống sẽ không phạm lỗi, nhưng nếu uống rồi làm càn thì sẽ dựa theo chuyện kẻ ấy đã làm để luận tội. Vì thế, tuy chưa thọ giới cũng chớ nên uống. Nếu đã thọ giới mà uống thì chỉ mắc tội phạm giới.


Nhưng đã phát tâm quy y Tam Bảo, cố nhiên nên giữ trọn cả năm giới. Tuy Phật đại từ đại bi có lệ cho con người tùy ý thọ một, hai, ba, bốn giới, nhưng đấy là dành cho những người lâm vào tình thế có những chuyện chẳng thể giữ được, đừng nên viện cớ đó để rồi dễ duôi! Nói đến những chuyện khiến cho [người thọ giới] chẳng thể giữ được là như kẻ đồ tể chẳng thể giữ giới sát sanh, tửu bảo chẳng thể giữ giới không uống rượu v.v…

 

Chuyện thế gian hay xuất thế gian không gì chẳng lấy thân làm gốc

Người quy y Phật pháp tu trì Tịnh nghiệp ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Dùng những điều ấy để tự hành, lại còn dạy người, sao cho trong là cha mẹ, anh em trai, vợ chồng, con cái, chị em gái, chị em dâu, tôi trai, tớ gái, ngoài là xóm giềng, làng nước, thân thích, bằng hữu cùng với hết thảy những người quen biết hữu duyên đều dùng những điều này để khuyên lơn họ. Phàm muốn khuyên ai, chính mình ắt phải thực hành chuyện ấy thì người ta sẽ tự làm theo. Chuyện thế gian hay xuất thế gian không gì chẳng lấy thân làm gốc. Đấy gọi là “dùng lời lẽ để dạy sẽ bị tranh cãi, dùng thân để dạy thì người ta sẽ thuận theo”.

 

Nếu là kẻ có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, chí thành niệm Phật thì lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn
Lại cần phải biết: Một pháp Niệm Phật chính là pháp môn đặc biệt trong hết thảy các pháp do đức Phật đã nói trong suốt cả một đời Ngài. Đạo lý ấy siêu việt hết thảy Thiền Giáo, Luật, Mật. Trong hết thảy pháp môn, muốn liễu sanh tử thì ắt phải đoạn sạch Phiền Hoặc mới có phần liễu sanh tử. Nếu phiền não Hoặc nghiệp chưa đoạn, mặc kệ anh kiến địa cao siêu, công phu sâu đậm, trí huệ to lớn, đều chẳng giúp được gì cả! Do các pháp môn ấy đều cậy vào tự lực cho nên khó khăn. Pháp môn Tịnh Độ hoàn toàn cậy vào Phật lực nên dễ dàng. Nếu là kẻ có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, chí thành niệm Phật thì lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn, vãng sanh Tây Phương. Đã vãng sanh Tây Phương thì phiền não chẳng mong đoạn mà tự đoạn. Do tất cả cảnh giới trong Tây Phương đều khiến cho con người tăng trưởng công đức, trí huệ, trọn không có gì khiến cho con người khởi tham - sân - si. Vì thế, Long Thọ Bồ Tát xưng tụng là “đạo dễ hành”, Mã Minh Bồ Tát xưng tụng là “phương tiện tối thắng”; nhưng pháp này chẳng phải chỉ để độ phàm phu mà thật ra còn phổ độ hết thảy phàm - thánh. Nay gởi cho các ông các thứ kinh sách, đọc rồi sẽ tự biết.

 

Quang già rồi, mục lực thật suy yếu, chẳng thể khai thị tường tận được! Những sách này là những khai thị phổ biến, tôi dùng hai mươi đồng [hương kính] của các ông [dâng cúng] để làm tiền thỉnh sách và bưu phí. Trừ những cuốn tự giữ ra, [những cuốn còn dư] đều đem tặng cho những ai thông văn lý, biết cung kính. Nếu là kẻ luông tuồng, không cung kính, đừng tặng cho họ để họ khỏi tạo tội khinh nhờn, đâm ra bị tổn hại, không có lợi ích. Do xưởng cơ giới chế tạo dụng cụ giết chóc, nếu như có thể từ chối không làm, hoặc sửa thành những đồ vật sử dụng cho việc khác thì là thượng sách.

 

Người niệm Phật gần đây phần nhiều chẳng biết tới tông chỉ của pháp môn Tịnh Độ
Nay đặt pháp danh cho hai người các ông, Vũ Tịch pháp danh là Trí Trạch, Tuyết Tịch pháp danh là Trí Tịnh. Dùng pháp môn Tịnh Độ để nhuần thấm hết thảy, thanh tịnh hết thảy, ngõ hầu chẳng phụ cuộc sống này và dịp gặp gỡ này. Người niệm Phật gần đây phần nhiều chẳng biết tới tông chỉ của pháp môn Tịnh Độ, cho nên nếu không xen tạp Thiền Tông thì cũng tôn sùng, đề cao Mật Tông. Ở chỗ ông Thư Thứ Phạm xin hãy nói với ông ta [về lời nhắc nhở này], những nơi khác đừng nói (Ngày Hai Mươi Sáu tháng Sáu).

NGÀI ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT 44VV55

Ảnh: Tượng Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Đạo tràng núi Cửu Hoa Sơn, An Huy, Trung Quốc.

Đoạn đầu: Trong Phật pháp, pháp môn vô lượng, không một pháp môn nào chẳng lấy Giới làm cơ sở, chẳng lấy Tịnh Độ là chỗ quy túc. Hai người các vị đã muốn quy y Tam Bảo thì hãy nên sốt sắng giữ tịnh giới của đức Phật. Người tại gia lấy Ngũ Giới làm căn bản.

Giới Luật chính là nền móng của Pháp đạo. Giống như ngôi nhà được vững chắc kiên cố thì nền móng phải thật chắc thật kiên cố vậy, còn nền móng mà yếu không chắc thì nguy hiểm lắm, không tồn tại lâu bền được, và cũng không thể xây lên thành ngôi nhà to lớn quy mô được. Vì sao lại như vậy? Đơn giản là vì vạn pháp đều được xây dựng từ cơ sở của Giới Luật, cho nên mới nói trong tu học phải "lấy Giới làm thầy" là vậy. Nói cách khác, thì nếu chẳng có Giới thì cũng chẳng có Pháp [thiện] nào cả, kể cả pháp thế gian lẫn xuất thế gian. Chẳng hạn lấy ví dụ, với Pháp môn Tịnh Độ này, nếu kẻ nào có tâm địa, hành vi gian ác, chuyên tìm cách gây hại người, chẳng có tâm hướng thiện, tâm từ bi, yêu thương người, yêu thương muôn vật, như thế thì làm gì có chuyện họ muốn cầu sanh Tây Phương để liễu thoát sanh tử, tu thành Phật quả để độ thoát khắp chúng sanh? Hoặc giả, một người dù cho tinh tấn này kia đi nữa nhưng tâm địa không đoan chánh, hay lươn lẹo, gian dối, chẳng giữ lời, như thế thì làm sao gầy dựng và giữ vững đạo tâm đạo lực suốt cả một cuộc đời không thay đổi cho được [chưa nói đến gầy dựng Tín Nguyện tâm chân thật đầy đủ, không đổi]. Hay một người làm nghề đồ tể, hay nghề nuôi trồng săn bắt động vật, thủy hải sản v.v... như thế thì làm sao có tâm quyết chí tu đạo để tự độ độ tha, giúp độ thoát lợi lạc chúng sanh cho được, trừ phi họ thay đổi, phát tâm, làm mới, đoạn ác tu thiện. Hay chẳng hạn dạng người không hiếu thảo với cha mẹ, bạc tình bạc nghĩa với anh em, dòng họ, quyến thuộc, thế thì sao phát tâm tu đạo cho được, còn như nếu có tu cũng chỉ là hình thức, văn tự bề ngoài, không có thực chất, hay tu cũng chỉ vì tư lợi cá nhân hay tương tự gì đó, chẳng thể phát khởi tâm Bồ Đề lên được, hay 'nuôi' hoài cũng chẳng thể lớn nổi cái tâm này, trừ khi họ dũng mãnh hoán cải, chí thành ăn năn sám hối, tu sửa, học tập trở lại. Cho nên, với Pháp môn này, mặc dù Tông chỉ tông yếu rất cô đọng, ngắn gọn, nhưng để thực hiện cho được những điều ấy là cả một quá trình tu học không ngừng nghỉ, không gián đoạn chứ không đơn giản. Chẳng hạn nói hành giả phải tin lời Phật thuyết, rằng Phật nói sao là cứ tin y như vậy là được, thế nhưng người có tâm địa ác độc hay dạng gian dối, lừa lọc, hay dạng đa nghi, dạng không quân tử, không chánh trực, như thế thì sao có thể tin sâu tin chắc vào một điều gì đó cho được [dù lời Phật hay bất cứ gì khác], bởi chắc chắn trong đầu họ luôn thay đổi như chong chóng vậy, nay tin cái này mai tin cái khác, nay học theo người này mai học người khác, nay hành trì pháp này ngày kia hành trì pháp khác... chứ ở đó mà tin chắc chẳng nghi, chẳng thay đổi một lời Phật thuyết để làm điểm tựa cho tâm lực tu đạo của mình. Cho nên người học Phật chúng ta cứ là phải kề cận Kinh sách, giáo lý, hay thiện hữu, tri thức, hay kể cả bạn đồng tu đồng đạo [tinh tấn, chân thật tu đạo] suốt là như vậy, để vừa là nhắc nhở vừa là tu học, sửa đổi, hoàn thiện, tiến lên suốt như vậy, phàm phu chúng ta không có những cái đó bên cạnh thì kiểu gì cũng suy thoái, lui sụt, hay thậm chí lầm lạc, hay bỏ dở, đứt gãy giữa đường.

Đoạn tiếp: ...Dùng những điều ấy để tự hành, lại còn dạy người, sao cho trong là cha mẹ, anh em trai, vợ chồng, con cái, chị em gái, chị em dâu, tôi trai, tớ gái, ngoài là xóm giềng, làng nước, thân thích, bằng hữu cùng với hết thảy những người quen biết hữu duyên đều dùng những điều này để khuyên lơn họ. Phàm muốn khuyên ai, chính mình ắt phải thực hành chuyện ấy thì người ta sẽ tự làm theo. Chuyện thế gian hay xuất thế gian không gì chẳng lấy thân làm gốc.

Nếu như mình về Lý thì nắm vững, rằng thao thao bất tuyệt, nhưng thực tế thực hành thì không thực hiện được thì nói họ không nghe, hoặc giả ban đầu cũng nghe cũng hành theo ít nhiều nhưng sau một thời gian họ sẽ bỏ dở, chẳng theo nữa, nói chung về lâu dài sẽ chẳng tới đâu cả, 'mèo lại hoàn mèo'. Lý do là vì sao? Đó là do sau thời gian họ nhận ra đó toàn là phù phiếm, không thực, dù cho các lý đó đều là đúng đắn, chân thật đi nữa, nhưng họ lại cảm giác đó chỉ về mặt lý thuyết, còn thực tế không áp dụng được, do không có người làm gương trước, để giúp cho họ trực tiếp thấy được, bởi một khi họ thấy được thì lời nói ấy sẽ có 'trọng lượng' hơn gấp nhiều lần, thậm chí nhiều khi không cần nói họ cũng âm thầm học tập, noi theo, nhất là vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, những người sống chung trong cùng nhà, hay cùng đoàn thể. Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa là những lời 'nói pháp' gần gủi ấy trong gia đình không cần thiết hay không có tác dụng thiết thực, chẳng hạn như gặp những trường hợp căn tánh tốt, ưu việt, thì nếu như đó là những lời chân thành, đúng đắn, có đạo lý thì họ sẽ nghe theo hành theo ngay và có thể tự thực hiện được, hoặc giả chúng ta cứ 'nhai đi nhai lại' những đạo lý chân thật, hữu ích, thiết thực trong cuộc sống, cả đời và đạo, những đạo lý pháp thế gian, xuất thế gian, lâu ngày chày tháng thì họ cũng thấm nhuần dần, như mưa dầm thấm đất vậy. Hoặc giả chúng ta không cần nói nhiều nhưng cứ chuyên cần hành trì đều đặn, không lỗi, thì dần dần họ cũng muốn bắt chướt, nương theo ta mà tu học, bởi nếu có căn cơ thì khi đủ nhân duyên thì tâm tu đạo trong họ sẽ tự bộc phát hay hiển lộ dần. Nói chung mọi sự mọi việc đều cần thời gian và quá trình để tích lũy, nuôi dưỡng và lớn mạnh lên vậy, chẳng có gì tự nhiên mà có ngay được, phàm phu là phải như vậy.

Đoạn tiếp theo: Do các pháp môn ấy đều cậy vào tự lực cho nên khó khăn. Pháp môn Tịnh Độ hoàn toàn cậy vào Phật lực nên dễ dàng. Nếu là kẻ có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, chí thành niệm Phật thì lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn, vãng sanh Tây Phương.

Chúng ta thấy các Ngài nói đến Tông chỉ tông yếu của Pháp môn đều là như vậy, giống hệt nhau, lúc nào cũng y như vậy, chứ không có chuyện nay nói thế này mai lại nói thế khác, hay người này nói thế này người kia nói thế khác, có chăng chỉ là cách diễn đạt, văn tự mỗi người mỗi cách mà thôi, còn ý nghĩa là chỉ có một, không hai. Với chúng ta thấy các Ngài khi nói đến điều này [Tông chỉ] có ai lại nói dạng như 'lâm chung niệm mười niệm sẽ được Phật tiếp dẫn vãng sanh' không? Hay chỉ cần bình thời 'có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, chí thành niệm Phật thì lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn'? Đấy, các Ngài có nhắc đến điều kiện lúc lâm chung phải thế này thế nọ [như giữ chánh niệm, niệm mười niệm...] thì Phật mới lai nghinh tiếp dẫn? Mà trong Kinh điển [Bổn Nguyện] Phật cũng đâu có nhắc tới điều này, tuyệt đối không có, không có chữ 'lâm chung' nào ở trong đó cả, mà chỉ là "nhược bất sanh giả bất thủ Chánh Giác". Vì sao các Ngài không nhắc đến? Bởi đơn giản là nếu hành giả thực hiện và hành trì đúng Tông chỉ tông yếu [như trên] thì khi lâm chung chắc chắn Phật sẽ đến tiếp dẫn ta, còn các điều như lúc đó đầu óc phải tỉnh táo, hay phải giữ được chánh niệm, hay niệm được một niệm mười niệm v.v... các điều này thực sự không phải là vấn đề của hành giả nữa, nghĩa là ai ai cũng thực hiện được, một khi có Phật lực gia trì, che chở, cường duyên cho [nhờ có cảm ứng đạo giao giữa Phật nguyện lực và chúng sanh], hoặc giả như trường hợp cơ thể không thể niệm nổi đi nữa cũng không sao cả, bởi một khi Phật đã 'hứa' [thề] đến rước là nhất định sẽ đến rước, bất luận có ra sao, có niệm được hay không niệm được, có như thế nào đi nữa, vẫn không bao giờ thay đổi, miễn là chúng sanh cứ tin tưởng đừng hoài nghi vào lời Thệ Nguyện của Ngài là được. Dĩ nhiên chúng ta nói ở đây không nhằm vào Pháp Biên Địa, bởi với Pháp này đó là một câu chuyện khác, khác về Tông yếu [nghĩa lý], khác về tâm lực, khác về mặt hành trì để thành tựu [lúc lâm chung], nói chung đây là Pháp 'cứu vớt' mà thôi, không phải Tông chỉ tông yếu của Pháp môn, nên sự thù thắng, sự khó dễ, sự chắc chắn và cả cảnh giới được sanh về là không thể so bì được với Pháp Tông chỉ kia vậy.

 

Văn Sao Tam Biên, quyển 3

Thư trả lời cư sĩ Vương Vũ Tịch và Vương Tuyết Tịch

Đại Sư Ấn Quang

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.