Vô Lượng Thọ Phật, Ý Dục Độ Thoát Thập Phương Thế Giới Chư Chúng Sanh Loại

 

 

NPSTD7

Vô Lượng Thọ Phật, Ý Dục Độ Thoát Thập Phương Thế Giới Chư Chúng Sanh Loại

Chánh kinh:
Vô Lượng Thọ Phật, ý dục độ thoát thập phương thế giới chư chúng sanh loại, giai sử vãng sanh kỳ quốc, tất linh đắc Nê Hoàn đạo. Tác Bồ Tát giả, linh tất tác Phật. Ký tác Phật dĩ, chuyển tương giáo thọ, chuyển tương độ thoát, như thị triển chuyển, bất khả phục kế. Thập phương thế giới, Thanh Văn, Bồ Tát, chư chúng sanh loại, sanh bỉ Phật quốc, đắc Nê Hoàn đạo, đương tác Phật giả, bất khả thắng số.
Vô Lượng Thọ Phật ý muốn độ thoát các loài chúng sanh trong mười phương thế giới đều được sanh về cõi ấy, đều khiến cho họ đắc đạo Nê Hoàn. Kẻ đã là Bồ Tát thì khiến cho đều được thành Phật, người đã thành Phật sẽ lại tiếp nối dạy dỗ, độ thoát người khác. Lần lượt như thế chẳng thể tính nổi. Không thể tính nổi số Thanh Văn, Bồ Tát, các loài chúng sanh trong mười phương thế giới sanh về cõi Phật ấy đắc đạo Nê Hoàn, sẽ thành Phật.

Giải:
Các vị Ðại Sĩ cõi Cực Lạc phát khởi những thệ nguyện sâu thẳm đến mức như thế ấy là do Di Ðà bổn nguyện gia hộ oai thần cũng như bản thân họ khéo học theo hạnh của Phật.
Bổn ý của Phật Di Ðà là nguyện chúng sanh được vãng sanh cõi ấy, đắc đạo Nê Hoàn (Niết Bàn), thảy đều thành Phật. Vị Phật mới thành lại độ chúng sanh. Chúng sanh được độ sẽ lại đều thành Phật rồi lại độ sanh tiếp theo. Vì vậy kinh nói: “Chuyển tương giáo thọ, chuyển tương độ thoát, như thị triển chuyển, bất khả phục kế” (Tiếp nối dạy dỗ, độ thoát người khác. Lần lượt như thế chẳng thể tính nổi).
Do lần lượt độ thoát nhau như thế nên các Bồ Tát, Nhị Thừa, các loài chúng sanh trong tứ sanh, lục đạo trong mười phương được vãng sanh Cực Lạc, chứng đạo thành Phật “bất khả thắng số” (chẳng thể tính nổi số). Ðó là vì số người được vãng sanh đã chẳng thể tính đếm nổi (Nê Hoàn chính là [cách phiên âm khác của chữ] Niết Bàn).

KINH A DI ĐÀ 56BV255

Ảnh minh họa: "Này Xá-lợi-phất, như ta hôm nay ngợi khen lợi ích về công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà. Ở phương Ðông cũng có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Ðại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm. Giống như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật..."

(Kinh A Di Đà bằng tranh)

Chúng ta đến với phần tiếp theo trong Phẩm 29, Nguyện Lực Hoằng Sâu. Trong phần này Phật nói về "Nguyện Lực Hoằng Sâu", của ai? Của các vị Đại Sĩ cõi Cực Lạc [như đọc chú giải của các Ngài]? Dạ, chẳng phải đâu ạ, mà đó chính là "Nguyện Lực hoằng sâu" của Phật A Di Đà vậy, chẳng phải ai khác, ở đây ý Kinh là như vậy. Vậy ở đây "Nguyện Lực hoằng sâu" là gì? Đó chính là "Vô Lượng Thọ Phật, ý dục độ thoát thập phương thế giới chư chúng sanh loại, giai sử vãng sanh kỳ quốc, tất linh đắc Nê Hoàn đạo", chỗ này nếu dịch Việt cho sát nghĩa để tránh hiểu nhầm và liễu thoát nghĩa hơn sẽ phải là "Vô Lượng Thọ Phật ý muốn độ thoát tất cả chúng sanh loại trong mười phương thế giới, đều được sanh về cõi ấy, tất đắc đạo Nê Hoàn". Tức là ý của Phật A Di Đà là muốn độ thoát tất cả chúng sanh trong Thập phương pháp giới đều được vãng sanh về cõi ấy, và dĩ nhiên là đều sẽ thành Phật. Đây mới là "Nguyện Lực hoằng sâu" đích thực của Phật A Di Đà vậy. Cho nên thành thật mà nói, với Kinh giáo này [Tịnh Độ Tông] nếu có một chút gì đó [còn nặng tư tưởng pháp tự lực] thì việc dịch nghĩa hay chú giải thường hay có một chút 'sơ suất' nào đó trong nghĩa lý của Kinh giáo Phật thuyết, tức kiểu không thoát ý hẳn ra được hoàn toàn, có một chút gì đó 'kềm chế' lại nghĩa lý của Kinh giáo. Dĩ nhiên chúng ta luận về ngữ nghĩa thì phải nói một cách công tâm, thẳng thắn minh bạch, nhưng ngoài cái đó ra chúng ta phải dành sự cung kính cùng cảm niệm ân đức của các Ngài một cách thâm sâu nhất, thật sự vậy, chúng ta đã được hưởng quá nhiều lợi lạc từ việc hoằng pháp lợi sinh của các Ngài, các Chư vị nói chung, điều đó chúng ta không bao giờ được phép xem nhẹ hay lãng quên. Nhưng cái nào phải ra cái đó, trong 'công việc' là phải thẳng thắn, minh bạch, cho nên Phật dạy rằng "y pháp, bất y nhân" là vậy.

Trở lại với phần Kinh giáo, rằng tới đây chúng ta mới thật sự thấy được cái "nguyện lực hoằng sâu" của Phật A Di Đà là như thế nào! Rằng không ngằn mé, không giới hạn, không phân biệt, rằng tất cả chúng sanh trong Thập phương pháp giới đều đã, đang, và sẽ được cái lợi ích như thế. Vấn đề chỉ là thời gian nhanh chậm ra sao mà thôi. Cho nên mới nói Pháp môn này là "phổ độ khắp chúng sanh" là vậy, "phổ độ" tức là sao? Tức là 'càng quét' hết, không sót một ai, theo thứ lớp đều được 'quét' sạch [giống như quang phổ của ánh sáng, tức không có khoảng hở trống, gián đoạn, ngắt quãng]. Bởi vậy nói đến đây chúng ta mới thấy, với Pháp môn này, chúng ta dù ở địa vị, địa phận gì, đừng có tự ti rằng chúng ta không thể về được, rằng không đủ năng lực phước đức hay nghiệp lực nặng nhẹ này kia để về được ngay đời này, mà phải cần tu thêm vài đời vài kiếp gì đó nữa, cho tiêu bớt nghiệp, hay cho đủ phước huệ lúc đó mới tính chuyện về. Dạ suy nghĩ như vậy là rõ ràng không đúng theo lới Phật dạy rồi. Vậy Phật dạy ở đây là như thế nào? Đó là Pháp môn "một đời thành Phật", tức là nếu tu 'ngon lành', như lý như pháp, cứ 'y Kinh Phật thuyết' mà tu mà hành, mà tin tưởng, chẳng nghi thì chỉ cần một đời này thôi, dù phát tâm sớm hay muộn gì, cũng sẽ được Phật rước hết cả, và sẽ thành Phật trong tương lai. Tức là không có 'bị chết' lần nào nữa đâu nhé, hoàn toàn không, dù chỉ một lần, rằng từ giờ đến khi thành Phật trong vị lai sẽ 'sống mãi', không chết, không thọ sanh thêm một lần nào nữa. Như vậy nghĩa là sao? Tức là tu cho đến cuối đời rồi Phật sẽ đến rước về khi 'còn sống', tức lúc chưa tắt hơi, thần trí vẫn minh mẫn, không bị nghiệp lực dẫn dắt kéo đi, rồi khi thần thức đã đi theo Phật về Tây thì dĩ nhiên cái thân xác giả tạm này phải xả bỏ lại thôi [rồi mới tắt hơi, thở ra không hít vào lần cuối], nhưng do nó không phải 'chết' [như người thế gian] nên nó sẽ không bị phân hủy theo thời gian, nếu để đó bao lâu cũng vậy. Cho nên chúng ta mới thấy các ca vãng sanh luôn có thoại tướng đẹp mãi như thế, thậm chí càng lúc càng đẹp, đó là do nó không có bị 'chết', đến ngay cả cái xác dù là giả tạm đó nó cũng không 'chết' luôn, chứ đừng nói đến thần thức. Cho nên đúng là vi diệu thật, không thể nghĩ bàn được.

Như vậy chúng ta thấy "nguyện lực hoằng sâu" của Phật nó 'kinh khủng' như thế nào! Vấn đề là cái "nguyện lực" đó liệu có viên mãn thành tựu hay không, chúng ta nói thêm chỗ này một chút. Dĩ nhiên là Phật đã thành Phật, nên cái Nguyện Lực ấy của Ngài không chóng thì chày sẽ viên mãn thôi, chỉ là vấn đề của thời gian nhanh chậm mà thôi. Chúng ta thấy rằng, đọc trong 48 Đại Nguyện của Ngài không có cái "Nguyện Lực Hoằng Sâu" này [phổ độ khắp chúng sanh trong Pháp giới], mà đây chỉ là "ý dục độ thoát thập phương thế giới chư chúng sanh loại", tức "ý muốn" của Phật là như vậy thôi, chứ chẳng phải đây là "thệ nguyện" [như trong 48 Đại Nguyện kia], chúng ta phải phân biệt rõ chỗ này, cho nên một khi Phật thành Phật [nhờ thành tựu viên mãn 48 Đại Nguyện kia], thì cái "ý muốn" này dĩ nhiên là vẫn chưa thể thành tựu viên mãn hoàn toàn tất cả được [như 48 Đại Nguyện kia]. Tuy nhiên một khi cái "ý muốn" [bổn hoài] đó của Phật hiện hữu, thì sẽ được các Chư Phật cùng các Chư Pháp Thân Đại Sĩ, Chư Bồ Tát, Chư vị chúng sanh trong khắp Pháp giới "triển chuyển" không dứt, cho đến khi nào thành tựu viên mãn hết cả mới thôi. Vì sao như vậy? Bởi đó là do cái "ý muốn" [bổn hoài] đó được lưu truyền theo thứ lớp từng đời từng đời cho mãi đến tột cùng đời vị lai vậy, chẳng lúc nào dứt, chẳng lúc nào ngưng nghỉ cả, cho đến lúc cái 'bổn hoài" đó được viên mãn rốt ráo vậy. Cho nên chúng ta thấy trong 48 Đại Nguyện được Ngài phát ra trong lúc còn tu nhân địa có một cái Nguyện có thể nói là tối quan trọng, đó là Nguyện thứ 17, "Nguyện Được Chư Phật Xưng Tán", đây chính là chỗ để thể hiện cái "ý muốn" [bổn hoài] này của Ngài vậy, ngay từ khi bắt đầu phát tâm lập Thệ Nguyện [48 Đại Nguyện] để thành Phật quả, độ thoát chúng sanh. Chúng ta thấy rằng, đây là một "ý muốn", một "bổn hoài" không thể thành tựu viên mãn ngay lập tức [khi Ngài thành Phật quả, hay khi Ngài còn 'lập địa' thành Phật, Giáo chủ cõi Cực Lạc], mà cần có sự 'chung tay' triển chuyển không dứt, qua từng đời từng đời Chư Phật, Chư chúng sanh [rồi thành Chư Phật], cho đến khi nào "tiếng khổ [của chúng sanh trong Pháp giới] còn không có huống là có khổ" [do thảy đều về Cực Lạc] thì mới viên mãn rốt ráo cái "bổn hoài" này.

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 29. Nguyện Lực Hoằng Thâm

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.