Vô Tăng Khuyết Giảm, Cầu Đạo Hòa Chánh, Bất Ngộ Khuynh Tà, Tùy Kinh Ước Lệnh, Bất Cảm Tha Điệt

 

 

NPSTD7

Vô Tăng Khuyết Giảm, Cầu Đạo Hòa Chánh, Bất Ngộ Khuynh Tà, Tùy Kinh Ước Lệnh, Bất Cảm Tha Điệt

Chánh kinh:
Xuất nhập cúng dường, quán kinh hành đạo, hỷ nhạo cửu tập, tài mãnh trí huệ. Tâm bất trung hồi, ý vô giải thời. Ngoại nhược trì hoãn, nội độc sử cấp. Dung dung hư không, thích đắc kỳ trung. Trung biểu tương ứng, tự nhiên nghiêm chỉnh. Kiểm liễm đoan trực, thân tâm khiết tịnh. Vô hữu ái tham, chí nguyện an định. Vô tăng khuyết giảm, cầu đạo hòa chánh, bất ngộ khuynh tà, tùy kinh ước lệnh, bất cảm tha điệt, nhược ư thằng mặc. Hàm vi đạo mộ, khoáng vô tha niệm, vô hữu ưu tư.

Từ lâu đã vui thích tu tập ra vào cúng dường, xem kinh, hành đạo. Trí huệ, tài năng bén nhạy. Tâm chẳng nửa chừng sanh hối hận, ý không lúc nào biếng nhác. Bề ngoài thong thả, bên trong luôn gấp rút. Tâm thênh thang như hư không, khế hội Trung Ðạo. Trong, ngoài tương ứng, tự nhiên nghiêm chỉnh, kiềm chế, thâu liễm, đoan nghiêm, chánh trực. Thân tâm khiết tịnh, chẳng có tham ái. Chí nguyện an định chẳng tăng, chẳng khuyết giảm. Cầu đạo, hòa chánh, chẳng lầm lạc, khuynh tà. Tuân theo những ước thúc, giáo lệnh trong kinh như giữ thừng mực chẳng dám sai sảy. Ðều vì mộ đạo, tâm thênh thang, trọn không có niệm khác, chẳng có lo nghĩ.
Giải:
Ðoạn kinh này nói về công đức thù thắng của đại chúng trong pháp hội cõi Cực Lạc.
Chữ “xuất nhập cúng dường” trích từ hai bản Hán dịch và Ngô dịch. Nguyên văn còn có đoạn: “Câu tương tùy phi hành, phiên bối xuất nhập, cúng dường vô cực” (Đều theo nhau bay đi, lần lượt ra vào, cúng dường vô cực). Ý nói: Các vị Bồ Tát, A La Hán từ cõi Cực Lạc bay đến mười phương, hưng khởi đủ các sự cúng dường lớn lao. Ðấy là tu phước. “Quán kinh, hành đạo” (Xem kinh, hành đạo) là tu Huệ. Thánh chúng cõi ấy đối với hai thứ phước huệ trang nghiêm này đều “hỷ nhạo” (vui thích) nên “cửu tập” (đã tu tập từ lâu).
Tiếp đó, chữ “tài mãnh” nên hiểu như trong phẩm Pháp Tạng Nhân Ðịa đã ghi: “Tài cao dũng triết, siêu dị ư thế”. Tài năng dũng mãnh là do trí huệ. Vì vậy, “trí huệ, tài mãnh” (tạm dịch “trí huệ, tài năng bén nhạy”) nghĩa là huệ căn bén nhạy, tài năng hơn đời.
“Tâm bất trung hồi”: “Hồi” (迴) là thoái lui. “Trung hồi” là đang giữa đường tu bỗng thoái chuyển. Sở dĩ thoái chuyển là do lòng tin chẳng vững, gặp duyên liền thoái thất. Thánh chúng cõi Cực Lạc trí huệ bén nhạy, đoạn nghi, sanh tín kiên cố chẳng lay động như núi Kim Cang nên “tâm bất trung hồi” (tâm chẳng lui sụt giữa chừng), thẳng tiến một lèo.
“Ý vô giải thời” (Ý không lúc nào biếng nhác): “Giải” (懈) là lười nhác. Biếng nhác là vì nguyện chẳng sâu. Nguyện chẳng sâu xa, khẩn thiết thì không có sức hành trì.
“Trì hoãn”: “Trì” (遲) là từ từ, là an nhàn, “hoãn” (緩) là thong thả. Vì thế, trì hoãn biểu thị sự an nhàn, trầm ổn, chẳng khẩn trương, gấp gáp. “Sử cấp”: “Sử” (駛) là nhanh chóng, “cấp” (急) là gấp rút, cấp tốc. “Ngoại nhược trì hoãn, nội độc sử cấp” (Bề ngoài thong thả, bên trong luôn gấp rút) là nói vẻ ngoài thong dong, nhàn hạ, tựa hồ vô sự, nhưng trong nội tâm luôn tinh tấn chẳng ngơi, niệm niệm tiếp nối, tâm tâm chẳng gián đoạn, chẳng để lỡ một sát-na nào mà chẳng quán chiếu nên kinh mới nói: “Nội độc sử cấp” (Trong luôn gấp rút). “Dung dung” (容 容) nghĩa là chan hòa, không lập dị. Như trong bộ Tả Hùng Truyện đời Hậu Hán có câu: “Dung dung đa hậu phước” (Lắm phước dầy chan hòa). Câu “dung dung hư không” trong kinh này chỉ tâm thánh chúng chan hòa như hư không. Do hư không không có bờ mé nên tự tâm cũng không có bờ mé. Hư không chẳng có một vật nên tự tâm cũng chẳng có một vật. Do hư không rỗng không nên sum la vạn tượng, mười phương cõi nước đều nương vào hư không mà sanh. Hư không tạo dựng vạn vật nên tự tâm cũng tạo lập vạn vật. Do không có một vật nên chẳng rơi vào Hữu biên. Do dung chứa vạn vật nên không bị rơi vào Không biên. Chẳng có một vật mà lại dung chứa muôn vật nên chiếu được cả Không lẫn Hữu. Chứa đựng vạn vật mà không hề có một vật nào cả nên cả Không lẫn Hữu đều mất, thung dung Trung Ðạo nên mới bảo là “thích đắc kỳ trung” (khế hội Trung Ðạo). (...)
“Cầu đạo hòa chánh, bất ngộ khuynh tà” (Cầu đạo hòa chánh, chẳng lầm lạc, khuynh tà): Chữ “hòa” (和) bao gồm các nghĩa: điều hòa, hài hòa, ôn hòa, bình ổn, hòa kính, hòa hợp, vui vẻ, tương ứng. “Chánh” (正) là như một, luôn giữ như một. Chánh gồm đủ các nghĩa: đúng đắn, không thiên lệch, thường, ngưng dứt, hạnh không lệch lạc, không tà vạy, thẳng thắn, chẳng khuất khúc. Thánh chúng cõi Cực Lạc hòa bình, trung chánh, vì cầu vô thượng đạo nên chẳng bị những điều nghiêng lệch, tà vạy gây lầm lẫn. “Khuynh” (傾) là nghiêng lệch, lật úp; “tà” (邪) là tà ác, tà ngoại.
Thánh chúng cõi ấy chẳng bị những thứ khuynh tà làm lầm lạc là vì họ “tùy kinh ước lệnh, bất cảm tha điệt, nhược ư thằng mặc” (Tuân theo những ước thúc, giáo lệnh trong kinh như giữ thừng mực, chẳng dám sai sảy). “Ước” (約) là ước thúc, “lệnh” (令) là mệnh lệnh, pháp luật, giáo lệnh. “Thằng mặc” (繩墨) là như khi thợ mộc thao tác, dùng sợi dây (thằng) nhúng mực (mặc) [căng ra] búng dây đánh dấu, rồi cứ theo dấu ấy mà làm, chẳng dám sai chạy chút nào nên khỏi bị hư hao, chẳng bị cong quẹo, lệch lạc.
Trong phẩm Cần Tu Kiên Trì (siêng tu giữ vững) của kinh này, những câu như: “Tùy thuận ngã giáo, đương hiếu ư Phật” (Tùy thuận lời dạy của ta là hiếu với Phật), “vô đắc vi vọng, tăng giảng kinh pháp” (chẳng được làm xằng, tăng giảm kinh pháp) cũng mang cùng ý nghĩa như vậy. Ðấy chính là “ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết” (rời ngoài một chữ trong kinh thì giống như lời ma nói). Những hành nhân trong đời phải nên lấy thánh ngôn làm chỗ y chỉ vậy.
“Hàm vi đạo mộ, khoáng vô tha niệm, vô hữu ưu tư” (Đều vì mộ đạo, tâm thênh thang, trọn không có niệm khác, chẳng có lo nghĩ): Câu thứ nhất ý nói những điều mong cầu trong tâm đều là lẽ đạo tột cùng. Câu thứ hai ý nói: Tâm mênh mông, chẳng còn vọng niệm. Ý câu ba là tín tâm kiên định, trí huệ rõ suốt không nghi nơi pháp, nên chẳng còn có ý tưởng lo nghĩ. (...) 

KINH A DI ĐÀ 1116588

Ảnh minh họa: "Này Xá Lợi Phất, chúng sanh nghe được điều này, phải nên phát nguyện, nguyện sanh về nước kia. Tại sao thế? Vì được cùng ở một chỗ với các bậc thượng thiện nhân. Này Xá Lợi Phất, không nên cho rằng có chút ít nhân duyên phước đức căn lành mà được sanh về nước kia đâu."

[Kinh A Di Đà bằng tranh] 

Chúng ta tiếp tục với phần Kinh văn trong Phẩm 32, Thọ Lạc Vô Cực. Trong đoạn này Phật tiếp tục nói về việc tu trì cũng như những đạo tâm đạo lực, tâm địa, cảnh giới này kia của nhân dân nơi cõi ấy ra sao. Nói chung Thánh chúng nơi cõi ấy hàng ngày thường đi cúng dường Chư Phật khắp muôn phương, đến giờ ăn lại về thọ thực, rồi kinh hành, niệm Phật, tọa thiền, nghe pháp, rằng "Tâm chẳng nửa chừng sanh hối hận, ý không lúc nào biếng nhác", cái này ý là thế nào? Tức là các vị ấy hoàn toàn không phạm phải những lầm lạc này kia, hay kiểu tạo tội tạo nghiệp như ở thế gian đây, nên không có hối hận, hay phải sảm hối, sửa chữa gì cả, đó là do những nhân duyên xấu ác không có ở đó, toàn những nhân duyên tốt lành, chánh đạo cả, nên có muốn sai lầm tạo tác cũng chẳng được, cho nên cõi ấy tuyệt chẳng thể lui sụt, thoái chuyển, chỉ có tiến lên phía trước. Chỗ "ý không lúc nào biếng nhác", cái này mới hay mới thù thắng, nó khác với các cảnh giới 'hỉ lạc' khác ở chỗ đó, chẳng hạn cõi Trời ở Ta Bà đây thường bị những cám giỗ hưởng thụ này kia gây cản trở, che mờ đi cái tâm tu đạo, khó thể phát khởi, tinh tấn lên được. Còn ở cõi ấy là một câu chuyện hoàn toàn khác, tức cũng được hưởng thụ sự hỉ lạc, an vui, tự tại, nhưng không bị đắm nhiễm, mê hoặc, mà trái lại tâm trí ngày càng sáng suốt, tinh tấn hơn lên, nói chung cái hỉ lạc này là từ Pháp chứ không phải từ 'dục' như ở các cõi Dục kia, nên sự hưởng thụ này có bản chất khác hẳn, mặc dù cũng có thể đến từ cả bên ngoài [y báo, chánh báo trợ duyên] chứ không phải chỉ từ nội tâm lưu xuất ra.

"Ngoại nhược trì hoãn, nội độc sử cấp" [Bề ngoài thong thả, bên trong luôn gấp rút], tại sao lại phải vậy, mà không phải trong ngoài đều tinh tấn, gấp rút cả? Hay là họ thích tu 'mật hạnh' hay gì đó chăng? Dạ chẳng phải, đó là do cái tâm họ luôn kiên định [hay an định] mà ra như vậy, hay nói theo Kinh văn là Chánh định ["trụ Chánh định tụ"], chứ còn tâm 'tà định' hay 'bất định' thì không thể được như vậy đâu. Tức vừa thể hiện sự bền lâu, sự tương tục, và cả sự phát triển lớn mạnh lên nên phải có hai 'trạng thái' có vẻ hơi đối lập cùng tồn tại song song như thế [để tạo nên sự 'cân bằng' vững chãi trong thân tâm], chứ còn trong ngoài đều nghiêng hẳn về một cái thì cũng không ổn được, bởi bản chất ở đây là vừa 'định' [hay 'tịnh'] mà vừa phải 'tiến' [tức 'tấn'] lên, hai cái này phải dung hòa, kết hợp, song song với nhau, bởi, không thể cứ 'dậm chân' mãi một chỗ được, mà cũng không thể 'hoạt náo' hết cả lên [sẽ mất đi sức định]. Nói chung cảnh giới tu tập ở đây đó là vừa 'động' vừa 'định' [thiền, niệm Phật]. Dĩ nhiên ở đây tu tập hoàn toàn tự tại, dạng 'thích gì tu đó', phát xuất từ nội tâm, từ y báo chánh báo, từ chư Thánh chúng, thượng thiện nhân, từ nghe Pháp, thân cận Chư Phật, Bồ Tát làm cho thúc liễm thân tâm trở nên tinh tấn, đều đặn, không gián đoạn, nói chung là có các trợ duyên trợ hạnh trợ tu quá đắc lực, quá thù thắng [mới được vậy], với ở đó thì cũng chẳng cần phân định 'Chánh Trợ', hay 'Phước huệ' hay gì cả, mà cứ theo cảnh duyên, thân tâm thúc liễm, hay tâm nguyện ra sao thì hành theo như thế vậy thôi. Còn chúng ta ở Ta Bà đây thì khác à, đó là do ở đây có muôn đường muôn lối, muôn pháp muôn đạo, rằng có Chánh đạo, có tà đạo, có Chánh pháp có tà pháp, nên tu ở đây không thể 'tự tại' hay 'thích gì tu nấy' như ở trên đó được, xung quanh ta đây thì tà ma ngoại đạo hẫy hừng, nhiều khi kiếm một vị thiện tri thức, hay những quý đồng tu chân thật còn quý còn hiếm huống hồ gì khác, cho nên hai cảnh giới khác nhau, hai 'cách thức' vận hành tu tập cũng hoàn toàn chẳng giống nhau vậy, chúng ta có học tập, noi theo là về đạo tâm, đạo lực, tức học cái Pháp chứ không phải học ở 'con người' [bởi mỗi nơi, mỗi người có những cách thức vận dụng, hành trì, dụng công khác nhau, mức độ đạt được cũng khác nhau, tùy thuộc căn cơ, hoàn cảnh, nhân duyên].

Ở đây có chỗ quan trọng, đó là "Cầu đạo, hòa chánh, chẳng lầm lạc, khuynh tà. Tuân theo những ước thúc, giáo lệnh trong kinh như giữ thừng mực chẳng dám sai sảy". Nói chung rằng tu hành ở đâu đi nữa thì cũng phải nương tựa vào Tam Bảo mà tu, tức Phật, Pháp, Tăng, chẳng thể rời xa [hay trái nghịch, sai lệch] ra được. Đây là nguyên tắc gọi là 'bất di bất dịch' trong việc tu tập Chánh đạo [tức Chánh Pháp], để được thành tựu giải thoát [sanh tử], rồi tiến lên Nhất thừa, Phật quả. Cho nên trong tu tập, nếu cảm thấy có gì đó sai lệch, không đúng với Kinh giáo, lời Phật thuyết ra thì phải gấp rút sửa chữa lại ngay, không được để lâu, bởi đơn giản rằng sửa càng sớm thì càng tốt, còn để càng lâu thì càng có hại, đơn giản là vậy. Chứ đừng nghĩ chúng ta cứ 'kiên định' con đường mình đi, mình đã chọn, dạ nếu kiên định theo đúng giáo lý Phật dạy thì còn gì tốt bằng, còn cứ 'kiên định' theo các tư tưởng, giáo lý khác đi thì không gì nguy hiểm bằng, thật sự vậy. Chẳng hạn, trong quá trình liễu nghĩa Kinh giáo, nếu tự ý thêm, đặc biệt là bớt đi, dù chỉ một từ thôi nhiều khi là đã thay đổi cả một hệ thống nghĩa lý của cái nội dung đó, tức nó mang một cái nghĩa hoàn toàn khác [so với 'bản gốc' mà Phật muốn thuyết]. Ví dụ, chúng ta thấy một từ, một chữ nào đó mà nó trở nên 'tối nghĩa', tức có cũng như không có, không thay đổi về nghĩa lý, hay nói rõ hơn là cảm thấy từ đó bị 'thừa' [có thể bỏ đi], như thế có thể nói rằng chắc chắn cách kiến giải [tức cách hiểu đó] có vấn đề, tức rằng ta đã hiểu không đúng lời Kinh ý Phật rồi, cần phải nghiêm túc xem xét lại. Bởi lời Phật thuyết ra thì chẳng thể thiếu, chẳng thể thừa được, đành rằng trong quá trình hội tập hay biên dịch sẽ có những cách viết khác không giống nhau hoàn toàn, nhưng những nội dung cốt lõi, trọng yếu thì không thể khác được, nhất là chúng ta có thể đối chiếu cả hai bên song ngữ vậy.

Các phần còn lại, hay những văn tự, ngữ nghĩa chúng ta có thể đọc chú giải của các Ngài để hiểu rõ hơn.

 

Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ

Phẩm 32. Thọ Lạc Vô Cực

Ngài Hoàng Niệm Tổ

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.