I. PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH
- Y phục trang nghiêm.
- Lễ bái.
- Ngồi ngay ngắn, kiết già hoặc bán già, lưng thẳng.
- Mắt nhắm nhẹ, định tâm.
- Bắt đầu niệm chậm rãi, ra tiếng rõ ràng từng chữ từng câu, bụng xẹp xuống theo hơi thở ra, cho đến khi hết hơi hẳn. Tùy sức người, có người niệm được 2 câu, có người được 3 câu, có người được 4 câu... Trong lúc niệm dù niệm nhanh hay chậm, ra tiếng hay niệm thầm đều nhiếp tâm nghe cho rành rẻ từng câu từng chữ. Điều cốt lõi ở đây đó là: "Trong từng câu Phật hiệu niệm ra nghe không được bỏ sót một từ nào", đây là nguyên tắt bất di bất dịch trong suốt thời khóa, rằng nếu mệt thì có thể ngồi thư giản nghỉ giải lao một lúc nhưng khi thực hành thì phải luôn tuân thủ triệt để nguyên tắc này. Lâu ngày chày tháng sẽ thấy tác dụng của nó.
- Hít vào chậm rãi, trong lúc hít vào vẫn tiếp tục niệm thầm không gián đoạn câu Phật hiệu (tùy sức và tốc độ niệm, có thể là một câu, hai câu...), tốc độ niệm thầm bằng với niệm ra tiếng, bụng căng lên (lưu ý là ở đây đề xướng dùng phương pháp thở bụng: thở ra bụng xẹp xuống, hít vào bụng căng lên, đặc biệt chú ý ở pha thở ra bụng xẹp hẳn xuống thì khi hít vào tự nhiên bụng căng ra). Cứ tiếp tục như vậy. Còn nếu ai không quen thì có thể lúc hít vào không nhất thiết phải niệm, chỉ niệm ở pha thở ra mà thôi, như vậy sẽ đỡ mệt hơn, bởi thực tế rằng nhiều người chưa quen sẽ dễ bị hao hơi tổn khí, lâu ngày sẽ thành bệnh nếu phải vừa hít vào vừa niệm.
- Trong suốt quá trình, tâm luôn lắng nghe tiếng Phật hiệu do mình niệm ra, đây là điều quan trọng nhất, không sử dụng máy niệm Phật, máy bấm số hay phương tiện gì trong suốt thời khóa này.
- Tốc độ niệm nhanh hay chậm thì tùy mỗi cá nhân. Ở đây đề xuất tốc độ niệm là 1 chữ một giây (hay tương đương như vậy), một câu A Di Đà Phật là khoảng 4 giây. Niệm chậm chắc, rõ ràng rành mạch, đều đặn nhẹ nhàng, sẽ dễ ghi khắc câu Phật hiệu vào tâm. Đi đứng nằm ngồi cũng dễ nhiếp tâm với tốc độ niệm này (lúc này có thể kết hợp dùng máy niệm Phật, bấm số, hay lần chuỗi...). Nói chung cũng tùy nghi phương tiện hoàn cảnh căn cơ thôi, không nhất thiết ai cũng giống ai.
- Thời lượng: Tùy theo điều kiện cá nhân. Nhưng nên từ một tiếng đến hai tiếng trở lên cho một thời khóa. Mỗi ngày nên có từ hai, ba, hay bốn thời khóa, tùy điều kiện, hoàn cảnh.
- Kết thúc thời khóa, phát nguyện, hồi hướng, lễ bái.
II. ƯU - NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP
- Ưu điểm: Nước uống nóng lạnh tự biết!
- Nhược điểm:
+ Chỉ thực hành cho từng cá nhân, không cộng tu đại chúng theo phương pháp này được.
+ Cần có sự kiên trì tập luyện, theo đuổi không bỏ cuộc, do ban đầu hơi khó thích nghi. Phải hành trì lâu ngày mới thấy được công hiệu.
III. NHẬN XÉT
- Vì mỗi cá nhân căn tánh bất đồng, nên công phu cá nhân là để gầy dựng năng lực công phu riêng cho từng cá nhân, do đó rất cần thiết trong tu tập (bên cạnh các thời khóa khác như: Lễ Phật - niệm Phật, địa chung cùng đại chúng...). Chúng ta đừng nên xem nhẹ thời khóa địa chung cá nhân, bởi đây chính là chỗ chúng ta rèn giũa phát triển năng lực công phu thật sự của mình. Tu hành công phu phải ngày một tiến lên, có công phu sâu thì khi ra ngoài đối người tiếp vật tâm chúng ta mới có sức định, khó bị cảnh duyên lay chuyển. "Được vãng sanh hay không là do có Tín Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp là do trì danh sâu hay cạn" - lời Chư Tổ Sư dạy.
- Việc tu hành nên tùy nghi phương tiện, không ai giống ai, mỗi cá nhân, tập thể có thể áp dụng phương pháp hành trì, thời khóa công phu hàng ngày như thế nào cho phù hợp với căn cơ hoàn cảnh của mình, miễn là phương pháp đem lại hiệu quả tốt nhất cho chúng ta thì áp dụng.
- Và cuối cùng, chúng ta không bao giờ được phép ngừng cố gắng, không bao giờ!
TP Hồ Chí Minh, 2026 (hiệu chỉnh lần thứ 3)


