Làm Được Như Thế Thì Vạn Người Chẳng Sót Một Ai; Như Người Rớt Xuống Biển, Nương Vào Sức Thuyền Cứu, Mau Lên Được Bờ

 

 

NPSTD7

Làm Được Như Thế Thì Vạn Người Chẳng Sót Một Ai; Như Người Rớt Xuống Biển, Nương Vào Sức Thuyền Cứu, Mau Lên Được Bờ

Như Lai thuyết pháp đều tùy thuận cơ nghi, với đại căn bèn chỉ thẳng Chân Như diệu tánh, khiến cho họ hiểu rõ diệu tánh viên minh, lìa các danh tướng, vốn chẳng có thế giới, chúng sanh, thường tịch, thường chiếu, bất sanh, bất diệt, Ngũ Uẩn không, sáu căn thanh tịnh, bốn tướng mất, nhưng nhất tâm hiện bày rành rành. Từ đấy, xứng tánh khởi tu, do tu chứng tánh. Mây phủ cửa Từ, sóng trào biển Hạnh. Dẫu từ bi hạnh nguyện trùm khắp pháp giới, nhưng tam luân thể không, trọn chẳng có những tướng ta - người, năng - sở!

 

Đốn luân, tận phận

Nhàn tà, tồn thành

Đối với tiểu căn bèn dạy cho Tam Quy để làm căn bản bỏ tà quy chánh, dạy Ngũ Giới, Thập Thiện để làm nhân được sanh trong trời, người. Gặp cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng, vợ theo, tận lực tuân thủ luân thường, ai nấy tận hết bổn phận. Kiêm thêm kiêng giết, phóng sanh, ăn chay, niệm Phật, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Đối với kẻ căn khí thù thắng hơn một chút thì bèn dạy cho Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên để họ đoạn Hoặc chứng Chân liễu sanh thoát tử. Lại vì hết thảy chúng sanh do thân - khẩu - ý khởi lên tham - sân - si, do tham - sân - si tạo giết - trộm - dâm. Do nhân duyên ấy luân hồi lục đạo, giết lẫn nhau, sanh ra nhau đến tột cùng đời vị lai trọn chẳng khi nào ngừng nghỉ. Tuy dạy những thừa nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, nhưng tự lực đoạn Hoặc thật chẳng phải dễ dàng!

 

Tín nguyện, trì danh

Cầu sanh Tịnh Độ
Huống chi chúng sanh trong đời Mạt căn cơ kém hèn, chẳng cậy vào Phật lực, quyết khó thể giải thoát. Do vậy, bèn mở riêng một pháp môn Tịnh Độ cậy vào Phật từ lực vượt ngang ra khỏi tam giới để người đã chứng thánh quả sẽ mau viên mãn Phật quả, người chưa đoạn Hoặc sẽ đới nghiệp vãng sanh. Chỉ cần đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, khẩn thiết chí thành trì danh hiệu Phật, làm được như thế thì vạn người chẳng sót một ai. Như người rớt xuống biển, nương vào sức thuyền cứu, mau lên được bờ; chúng sanh đời Mạt bỏ pháp này muốn thoát sanh tử thì vạn người chẳng được một ai!

 

Là cội nguồn của [tất cả] các pháp, làm chỗ nương cậy cho chúng sanh
Do vậy, biết rằng: Đại pháp của Như Lai vỗ về nuôi nấng quần manh, như trời che phủ khắp, như đất nâng đỡ đồng đều; sâm la vạn tượng không một thứ nào thoát ra ngoài được, không gì chẳng thuộc trong ấy! Như mặt trời, mặt trăng sáng ngời trên không, chiếu khắp muôn nước; tuy kẻ mù từ lúc lọt lòng chẳng thấy được quang minh cũng vẫn được chiếu soi. Như mưa đúng thời thấm nhuần trọn khắp muôn cây cỏ: Rễ to, thân lớn, cành nhỏ, lá bé đều cùng tươi tốt. Dẫu là mầm cháy, hạt hư cũng vẫn được bình đẳng thấm nhuần. Như đại hải chứa trọn trăm sông, sông to rạch lớn cũng đổ vào biển, ngòi nhỏ kênh bé, thậm chí một chước, một giọt cũng đổ vào biển. Đã vào trong biển cả thì cùng một vị mặn, cùng một mức sâu rộng như biển cả, đánh mất tên cũ, được mang tên là biển. Do vậy, biết Phật pháp un đúc, giáo hóa, dạy dỗ trọn chẳng bỏ ai; là cội nguồn của các pháp, làm chỗ nương cậy cho chúng sanh. Hết thảy các pháp thế gian hay xuất thế gian không pháp nào chẳng phát xuất từ pháp giới này, không pháp nào chẳng quy hoàn pháp giới này.

Những kẻ chấp nhặt, hẹp hòi chẳng biết Phật pháp chính là pháp chung cho cả mười pháp giới, chỉ thấy chuyện bỏ cõi tục đi xuất gia bèn cho là phế bỏ luân lý, đắm chìm trong không tịch, mang lỗi trái nghịch thế giáo. Nào biết Phật pháp như thái hư, không gì chẳng bao dung, như ánh nắng Xuân không gì chẳng sanh trưởng; thánh nhờ vào đây mà thành thánh, hiền nhờ vào đây mà thành hiền. Vì thế, thời cổ những người lập đại công, dựng đại nghiệp, tiếng tăm lừng lẫy trời đất, lòng tinh thành bao trùm nhật nguyệt đều là do học Phật pháp đắc lực mà phát khởi. 

 

Hàng thượng thượng căn, kế đó...
Phật pháp truyền vào Trung Quốc gần hai ngàn năm. Trong thời gian ấy, những kinh - luật - luận dịch từ Tây Trúc và những trước thuật về Thiền, Giáo, Luật, Mật, Tịnh v.v… của cổ đức các tông cõi này mênh mông như mặt biển tỏa hơi mờ. Tùy theo căn cơ con người gần gũi pháp nào, tùy theo lòng ưa thích của mỗi người mà nghiên cứu: Hoặc nghiên cứu khắp các tông, hoặc chuyên chú nơi một môn. Như bốn cửa thành, gần cửa nào thì vào bằng cửa đó. Cửa vào tuy khác, nhưng vào cùng một thành. Như một giọt nước biển, có đủ vị của trăm sông. Như một hạt châu nơi cái lưới của Đế Thích hiện bóng một ngàn hạt châu. Thâm nhập một môn thì các pháp đều thông. Đến khi vô minh hết sạch, tịch chiếu viên dung, dứt sạch ba đời, mười giới chìm lỉm, hoàn lại thiên chân vốn có, chứng giác đạo vô thượng. Cố nhiên hạng người như vậy thuộc về hàng thượng thượng căn. Kế đó là những người dứt tham - sân - si, đoạn giết - trộm - dâm, không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, tích lũy công đức dần dần, tăng trưởng phước huệ, giữ vẹn nhân luân, trọn hết tình nghĩa, yêu thương mọi người, nhân từ, kiêng giết, phóng sanh, tập thành lòng từ thiện, đối với loài vật còn thương xót, huống chi con người? Thúc đẩy phong hóa ấy đến trọn khắp thế giới, há còn có tâm tàn hại lẫn nhau, tranh giành mưu hại giết chóc, muốn tàn sát chủng tộc người khác hòng vừa ý mình nữa ư?

 

Theo giá vốn và chi phí chuyên chở
Lâm Hồng Du, Trần Đắc Lộc thuộc Thái Cát Đường ở Hạ Môn thương cho kiếp vận thê thảm, muốn cứu vãn, muốn cho đồng nhân khai ngộ, nên lưu thông kinh Phật. Phát hành kinh sách theo giá vốn và chi phí chuyên chở, trọn chẳng mong kiếm lời. Muốn mở mang tai mắt cho người nên xin tôi viết lời tựa. Tôi mến lòng thành của họ, bèn thuật đầu đuôi. Phải biết Phật pháp lấy nhân quả báo ứng làm đạo hạ học thượng đạt, là đạo từ đầu đến cuối đều phải có. Nay người trên không nêu gương, kẻ dưới không giữ pháp, đây - kia tranh chấp đánh nhau, lấy giết chóc làm vui, chỉ mong sao khoái ý mình, chẳng đoái hoài nước nhà diệt vong, dân tình lầm than, đều do chẳng biết nhân quả báo ứng nên tạo thành như vậy. Tôi thường nói: “Nhân quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh”. Trong đời hiện thời, nếu chẳng đề xướng sự lý nhân quả báo ứng sanh tử luân hồi mà muốn cho thiên hạ thái bình nhân dân an lạc, dù Phật, Tổ, thánh hiền đều xuất thế cũng chẳng làm gì được!

 

dh1

Ảnh minh họa: 'Đại hỏa luân' trên biển

Pháp môn "Cậy vào Phật từ lực" và Pháp môn "Tự lực tu chứng" thường được Chư Tổ sánh [ví như] đi bằng thuyền lớn và ...tự bơi, để vượt biển, đến bến bờ bên kia.

Đoạn: "Thâm nhập một môn thì các pháp đều thông. Đến khi vô minh hết sạch, tịch chiếu viên dung, dứt sạch ba đời, mười giới chìm lỉm, hoàn lại thiên chân vốn có, chứng giác đạo vô thượng. Cố nhiên hạng người như vậy thuộc về hàng thượng thượng căn. Kế đó là những người dứt tham - sân - si, đoạn giết - trộm - dâm, không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, tích lũy công đức dần dần..."

Vậy chúng ta tu hiện nay là có đang "thâm nhập một môn [huân tu lâu dài]" không Quý vị? Nếu thế thì chúng ta đây đều được liệt vào hàng 'Thượng thượng căn'? Dạ vấn đề không phải hiểu một cách đơn giản như vậy. Thâm nhập một môn có thể hiểu là [Chánh hạnh] một câu Phật hiệu chúng ta trì niệm mãi suốt đời, chẳng đổi. Đối với bậc Thượng thượng căn thì các Ngài [tự] điều hòa tâm tánh, điều phục chế ngự phiền não tham sân si, [tự nhiên] giữ vững kiên định một Pháp đến cùng [hay còn gọi là Pháp khí trong nhà Phật]. Rồi các Ngài một câu Phật hiệu niệm thuần thục từ sáng đến tối [từ tối đến sáng] chẳng gián đoạn, bất luận đi đứng nằm ngồi, nói năng động tịnh, làm gì ở đâu. Chúng ta đây liệu đã làm được như thế chăng?

Cho nên, "Phát Bồ đề tâm, nhất hướng chuyên niệm", hay gọn là "Tín Nguyện, trì danh", chúng ta đây do đa phần còn là phàm phu nên còn phải 'kiêm nhiệm' tu học thêm nhiều thứ khác nữa [để trợ thủ đắc lực cho việc niệm Phật] như: Phải cố gắng điều hòa tâm tánh, điều phục tập khí phiền não, ra sức giữ gìn giới luật, tu Tịnh nghiệp tam phước... Như thế thì đúng như Chư Tổ đã khuyến dạy và việc tu học mới giữ gìn bền lâu, đắc lực cả đời được.

Nói chung, càng đi sâu vào thời Mạt pháp, căn tánh chúng sanh càng trở nên hèn kém, điều kiện môi trường hoàn cảnh [cho tu học] càng trở nên khó khăn, phước báu cho tu Tịnh nghiệp càng trở nên thiếu mỏng. Thế nên, chúng ta, những người đang tu Tịnh nghiệp cầu giải thoát, nếu không biết 'khôn khéo' nương cậy vào Phật từ lực để tu hành, thì những khó khăn rắc rối trên đường đạo là thật khó thể nào đong đếm tính lượng hết nổi, và vì thế việc thành tựu giải thoát là rất chông gai và thật khó đoán định được. Chi bằng chúng ta môt lòng một dạ [tin tưởng] nương cậy Tha lực đại đạo ấy mà hành trì tu tập suốt một đời, thì ngàn vạn phần ổn thỏa hơn rất nhiều, và như Chư Tổ đã nói, kết quả [thành tựu] là hoàn toàn có thể đoán định được. "Vạn pháp từ tâm tưởng sanh", và việc thành tựu cũng từ tâm [dụng thế nào] mà quyết định vậy.

 

Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên (trích lục)

Lời tựa duyên khởi của Hạ Môn Phật Kinh Lưu Thông Xứ

Đại Sư Ấn Quang

Lời Phật Lời Tổ

Khai thvyếu chca Tnh Độ:
Ch
ư vị đạo tc hãy suy nghĩ chính chn. Vi căn cơ thin bc như chúng ta, nếu không nương vào Bn Nguyn Di Đà thì làm sao có thtoi nguyn chuyn ln vãng sanh được! Ngưỡng trông Bi Nguyn ca Đức Di Đà mà xưng danh hiu ca Ngài. Đó tc là nương ta vào Bn Nguyn Di Đà vy. Để được vãng sanh, không gì hơđiu ny. Mi suy nghĩ khác đều là tâm kiêu mn.
Nói r
ng nương ta Di Đà, chng phi là quán tưởng ở trong tâm, mà là xưng nim danh hiu. Đó tc là nương ta Bn Nguyn. Người tu Nim Pht đừng trụ ở quán tưởng, hnghĩ đến quán tưởng hãy lp tc xưng danh ra tiếng!
Ngoài x
ưng danh ra, không có chánh nhân quyết định vãng sanh! Ngoài xưng danh ra, không có chánh hnh quyết định vãng sanh!
(...)

Đức Di Đà ly xưng danh làm Bn Nguyn, chán uế ưa tnh cũng trong xưng danh. Bi thuxưa Btát Pháp Tng đã phát khi Bn Nguyn, hãy tin thn lc cu độ ca Di Đà Như Lai.
Ngoài ra, n
ếu cho rng còn có gì thâm áo khác thì lt ra khi Di Đà Bn Nguyn mà đọa ác đạo vy!

________________________________

"Mọi suy nghĩ khác đều là tâm kiêu mạn": Thật sự rằng việc không chịu tin nhận Di Đà Bổn Nguyện, tức Lời Thề Nguyện của Phật, cũng là một dạng của tâm kiêu mạn [nếu đã biết và hiểu đúng Di Đà Bổn Nguyện], bởi tại sao? Bởi vì như thế thì họ chỉ tin vào 'chính mình' mà thôi, còn thì bỏ qua tất cả, kể cả đó là Lời Thệ Nguyện của Phật [và đã thành tựu], kể cả đó là lời Kinh Phật thuyết ra [thuyết lại Di Đà Bổn Nguyện cho chúng sanh nghe]. Cho nên đến lời dạy, lời thề của hai đấng Từ Tôn như thế mà còn không chịu 'cúi mình' [để tin nhận] nữa thì thôi, đó chẳng phải là quá kiêu mạn thì là cái gì? Còn như do hiểu nghĩa lý Kinh văn không đúng thì cần phải học tập lại thôi, sai thì phải sửa vậy, chứ biết sai mà vẫn cố bám chấp vào đó thì thua. Cho nên trong tu học nhất là tu Tịnh Độ thì đặc biệt cần cái tâm "chánh trực", vì sao? Bởi chỉ có được cái tâm này mới tôn trọng sự thật, mới 'thượng tôn' cái Chánh, mới dám 'cải Tà quy Chánh', mới chịu tin tưởng chẳng nghi lời Kinh Phật thuyết [bởi đó là Chánh, còn khác đi là Tà].

Pháp Nhiên Thượng Nhân

Phương Pháp Hành Trì

Các Bài Pháp Nổi Bật

"Tự Mình Chẳng Về, Về Liền Được; Gió Trăng Quê Cũ Há Ai Giành?"

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
    (năm Dân Quốc 22 - 1933)

    Đã ăn chay trường niệm Phật, [vẫn cần] hãy nên đem tông chỉ Tịnh Độ và những nghĩa lý tu trì quan trọng kể...
    Muốn học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì mới được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật nơi Phật pháp?

  • Quanh Năm Niệm Phật

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao

    Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. 

  • Cậy Vào Phật Từ Lực Đới Nghiệp Vãng Sanh, Nếu...

  • Mô tả

    Phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao

    1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đã phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu trì thì Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền não ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Vì thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian.

  • Chứng Bất Thoái Ngay Trong Hiện Đời

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Pháp Môn Vừa Cực Khó Vừa Cực Dễ

  • Mô tả

    Thư trả lời cư sĩ Tập Hoài Tân
    (năm Dân Quốc 20 - 1931)

    Dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh

    Ông đã biết lợi ích của việc niệm Phật thì từ rày hãy nên gắng công hơn để tự được nhất tâm. Nhưng một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh lòng tin và phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc được vãng sanh. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực để vãng sanh.

  • Đắc Đà-Ra-Ni

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, tha phương thế giới chư Bồ Tát chúng văn ngã danh giả, chứng ly sanh pháp, hoạch đà-ra-ni, thanh tịnh hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ. Tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Ứng thời bất hoạch nhất nhị tam nhẫn. Ư chư Phật pháp, bất năng hiện chứng Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà-ra-ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức; nếu ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ Nhẫn, với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được Bất Thoái Chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

  • Chiếu Tột Mười Phương

  • Mô tả

    Chánh kinh:
    Ngã tác Phật thời, sở cư Phật sát, quảng bác nghiêm tịnh, quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới. Chúng sanh đổ giả, sanh hy hữu tâm. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
    Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu thấu mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

  • Hễ Có Tín Nguyện Thì Không Một Ai Chẳng Được Thấm Nhuần, Viên Đốn Thẳng Chóng

  • Mô tả

    Luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu

    Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai.

  • Gia Ngôn Lục

    Người khác gặp tình cảnh cấp bách, như bệnh tật thì thuốc men là chuyện cần kíp. Đối với tang ma thì chuyện tẫn liệm là điều cần gấp. Đói rét thì cơm áo là chuyện cấp bách. Thiếu thuế thì bị truy bức là chuyện cấp bách. Các loại [tình thế cấp bách ấy] chẳng thể kể xiết! Ai nấy hãy đều nên tùy sức lập phương tiện cứu giúp. Khi đó, cần phải quả quyết thực hiện, đừng nghi ngại. Nếu không, sẽ bỏ lỡ phước duyên này, đáng tiếc lắm thay! (...)

    Sách Địch Cát Lục viết:
    - Kẻ thất phu mà có lòng thương yêu loài vật, ắt sẽ giúp đỡ người khác. Để cứu tánh mạng [của người hay vật mắc nạn], chẳng tốn kém mấy. Đặc biệt là kẻ cơm áo dư dật, chẳng biết đến nỗi khổ đói rét, trông thấy [hoàn cảnh nheo nhóc của kẻ khác] cũng chẳng cảm thấy gì, hời hợt chẳng quan tâm đến.(...) May mắn được no đủ, lại còn mong muốn hưởng thụ no ấm, dư dật, tính chuyện bền lâu cho con cháu, nhưng đối với chuyện cứu người trước mắt, chẳng bỏ một đồng! Chẳng biết nước, lửa, đạo tặc, tật bệnh, tai họa ngang trái, đều có thể khiến cho tài sản của ta phút chốc tan sạch. Chút phước phận nhỏ nhoi cũng do Trời Đất ban tặng, há có phải là do chắt bóp, keo kiệt, tham tiền như mạng mà có thể đạt được như vậy ư? Một mai vô thường, [những tài sản đã khổ công tích cóp ấy] chỉ trở thành những món tiền để con cháu rượu chè, gái gú, cờ bạc, phóng đãng đó thôi! Do vậy, đã có món tiền tiêu phí đủ cứu cả ngàn mạng người ấy, sao không dùng để tích đức? [Chuyện tích đức do cứu người] còn sâu dầy hơn cầu trời che chở nữa! Lý ấy tột bậc rõ ràng, [thế mà những kẻ bị] hơi đồng hôi thối nhuốm thân, trọn chẳng suy lường chi cả! (...)

    Đời Minh, Giải Khai nhà giàu có. Hễ thân thích, bạn bè gặp chuyện cưới hỏi, ma chay mà không đủ sức, liền giúp đỡ. Hễ có người gặp cảnh ngặt nghèo, nói với ông, ông luôn dấn mình vào cảnh nước sôi, lửa bỏng để ra tay giúp đỡ. Ông thường nói: “Có ai mà chẳng muốn tích cóp cho nhiều, nhưng kẻ giàu có sẽ thành nơi kết oán, ta chỉ biết làm lành để đức cho con cháu, há cậy vào vàng, ngọc ư?”. Con ông là Luân làm Thị Ngự Sử, [một người con khác tên là] Tấn làm Đại Học Sĩ.

    Cảm Ứng Thiên